- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2023/HS-ST Ngày: 17/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Sơn.
2. Bà Lê Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2023/HSST-QĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Đức T, sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 15/22/22/15 HT39, Khu phố 4, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 08/12; Họ tên cha: Cao Văn Đ, sinh năm 1957 (chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1963; Anh chị em ruột: Có 03 người kể cả bị cáo; Nhân thân: Ngày 23/8/2012 bị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục trong thời gian 18 tháng về hành Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 843/QĐ-UBND; Ngày 05/8/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 21 tháng theo Quyết định số 218/2016/QĐ-TA; Ngày 09/8/2018, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 18 tháng theo Quyết định số 32/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 05/12/2019; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 14/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 18 tháng theo Quyết định số 215/2021/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 13/6/2022; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lương Phát T1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: 84N HT05, Khu phố 3, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Bùi Bá T2, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà không số, tổ 13, ấp 4, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên Cao Đức T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 26/9/2022, T1 điều khiển xe máy biển số 59S2-142.37 đến khu vực quán cà phê 369, xã Đ, huyện H mua của đối tượng Minh Trọc 37 tép ma túy Heroin với giá 3.200.000 đồng. T cất 04 tép vào trong túi áo bên trái đang mặc, 33 tép còn lại bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá Jet cầm trên tay và điều khiển xe máy đi bán ma túy cho người nghiện. Khi đến trước số 59, đường H, ấp 6, xã Đ thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Công an xã Đ, huyện H bắt quả tang (bút lục 27-28).
Trong quá trình Cơ quan điều tra làm việc, Lương Phát T1 gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy nên triệu tập đến trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Cao Đức T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. T bán ma túy cho T1 02 lần, lần 1 vào ngày 22/9/2022, lần thứ 2 vào ngày 23/9/2022 mỗi lần 01 tép Heroin giá 200.000 đồng/tép. Lời khai của T1 phù hợp với lời khai của T. T thực hiện hành vi mua bán ma túy từ giữa tháng 9/2022 cho đến khi bị bắt, thu lợi bất chính số tiền 2.100.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số: 5540/KL-KTHS ngày 04/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh (bút lục 34):
- Gói 1: Bột màu trắng trong 33 đoạn ống hút nhựa (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 4,1011g (bốn phẩy một không một một gam), loại Heroin.
- Gói 2: Bột màu trắng trong 04 đoạn ống hút nhựa (ký hiệu mẫu m2) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,4871g (không phẩy bốn tám bảy một gam), loại Heroin.
Vật chứng thu giữ:
- 02 gói niêm phong số vụ 5540/22 (1) và 5540/22 (2);
- 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen dùng liên lạc mua bán ma túy;
- Xe máy biển số 59S2-142.37, số khung RLHJC5294DY029397, số máy JC52E1376728, xe do ông Bùi Bá T2 là cha dượng của Cao Đức T đứng tên chủ sở hữu, ông T2 cho T đi công việc, không biết T sử dụng xe làm phương tiện đi mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã trả xe cho ông Thuần.
Đối với Lương Phát T1, là người mua ma túy của T, thời điểm Cơ quan điều tra triệu tập để làm việc không thu giữ được ma túy nên không có cơ sở để xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã giao T1 cho Công an xã Đ xử lý hành chính.
Đối với các tượng bán và mua ma túy của Cao Đức T, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, đề nghị xử lý sau.
Tại Bản cáo trạng số: 86/CT-VKS-H.HM ngày 20 tháng 3 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Cao Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Cao Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Đức Tr từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Phạt bổ sung bị cáo Cao Đức T từ 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng để sung quỹ Nhà Nước.
- Về xử lý vật chứng của vụ án:
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số vụ 5540/22 (1) và 5540/22 (2), bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen là điện thoại T dùng để liên lạc mua bán ma túy.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Công an huyện Hóc Môn, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 26/9/2022, Cao Đức T đã có hành vi cất giấu 4,5882g ma túy loại Heroin và đang trên đường đi bán ma túy cho người nghiện thì bị bắt quả tang tại ấp 6, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. T đã bán ma túy cho Lương Phát T1 02 lần, cụ thể lần 1 ngày 22/9/2022, lần 2 ngày 23/9/2022. Số tiền thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy của T là 2.100.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Cao Đức T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ ma túy có tác hại khó lường, rất nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh hưởng xấu đến gia đình và cộng đồng, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương và khó khăn trong việc phòng chống tội phạm. Nhưng vì muốn đáp ứng nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và có tiền sử dụng ma túy, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 23/8/2012 bị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục trong thời gian 18 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 843/QĐ-UBND; và 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 218/2016/QĐ-TA ngày 05/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (thời hạn 21 tháng) và Quyết định số 32/QĐ-TA ngày 09/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh (thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 05/12/2019).
Về tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 14/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 18 tháng theo Quyết định số 215/2021/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 13/6/2022.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng để sung quỹ Nhà Nước.
Đối với các đối tượng bán và mua ma túy của Cao Đức T: Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với Lương Phát T1, là người mua ma túy của T, thời điểm Cơ quan điều tra triệu tập để làm việc không thu giữ được ma túy nên không có cơ sở để xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã giao T1 cho Công an xã Đông Thạnh xử lý hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số vụ 5540/22 (1) và 5540/22 (2), bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen là điện thoại T dùng để liên lạc mua bán ma túy.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Áp dụng Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Cao Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Cao Đức T 08 (tám) năm tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày 26/9/2022.
3. Tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
4. Hình phạt phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
5. Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng để sung quỹ Nhà Nước.
6. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số vụ 5540/22 (1) và 5540/22 (2), bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen là điện thoại T dùng để liên lạc mua bán ma túy.
(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 76/QĐ-VKS-HS ngày 13/3/2023, biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/3/2023)
7. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
8. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Cơ quan điều tra công an H. HM; - Chi cục THADS H.HM; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẪM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Mỹ Linh |