- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Thị Ph bị xử phạt về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 L…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 98/2023/HS-ST Ngày 16 – 11 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Văn Hảo.
- Ông Trần Văn Luyện.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thùy Dung – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023,
Đối với bị cáo: Nguyễn Thị Ph, sinh ngày 29/12/199x tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Hộ khẩu thường trú: xóm A, xã LS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Trọng D và bà Nguyễn Thị N; có chồng là Chu Văn Đ và có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 07/9/2023 đến ngày 13/9/2023. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Chị Đinh Thị Ng. Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm B, xã BS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Chị Nguyễn Thị Như Q. Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm K, xã LS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 21/09/2022 đến ngày 07/09/2023, Nguyễn Thị Ph, đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 2 cá nhân trên địa bàn huyện Đô Lương, với lãi suất từ 4.800 đồng (Bốn nghìn tám trăm đồng)/1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/1 ngày tương ứng với 14,4%/1 tháng, 172,8%/1 năm đến 5.000 đồng (Năm nghìn đồng)/1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/01 ngày tương ứng với 15%/1 tháng, 180%/1 năm, cao hơn gấp 5 lần so với quy định về lãi suất trong giao dịch dân sự (Mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật dân sự 2015 cho phép là 20%/năm). Cụ thể như sau:
* Hành vi thứ nhất: Vào ngày 21/9/2022, chị Đinh Thị Ng (Sinh năm 198x. Trú tại xóm B, xã BS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An) đến tiệm gội đầu của Nguyễn Thị Ph, tại xóm A, xã LS, huyện ĐL, để hỏi vay Phương số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) với mục đích để buôn bán, làm ăn thì được Nguyễn Thị Ph đồng ý với thoả thuận lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tương đương 15%/1 tháng, 180%/1 năm, lãi suất tính theo tháng, mỗi tháng tính 30 ngày. Tuy nhiên, do chỗ quen biết nên Nguyễn Thị Ph chỉ thu tiền lãi hàng tháng của khoản vay là 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tức là lãi suất 14,4%/1 tháng, 172,8%/1 năm. Nguyễn Thị Ph yêu cầu chị Ngọc viết giấy vay nợ, ký tên vào giấy vay và Ph dùng điện thoại Iphone 11 của bản thân quay video lại nội dung chị Ng tự trình bày về việc vay nợ. Sau khi làm xong thủ tục vay tiền, Nguyễn Thị Ph dùng điện thoại đăng nhập vào tài khoản Agribank của bản thân số tài khoản 1508205224586 chuyển vào tài khoản Agribank của chị Đinh Thị Ng số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng), số tiền còn lại 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) Nguyễn Thị Ph đưa tiền mặt cho chị Đinh Thị Ng. Hàng tháng chị Ng phải trả cho Ph số tiền lãi là 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Tính đến ngày 21/6/2023 chị Ng đã trả tiền lãi cho Nguyễn Thị Ph, 09 tháng x 3.600.000 đồng/01 tháng = 32.400.000 đồng (Ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng), bằng hình thức trả tiền trực tiếp hoặc bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng Nam Á của Nguyễn Thị Ph có số tài khoản là 869888666. Tổng số tiền Nguyễn Thị Ph thu lợi từ việc cho chị Đinh Thị Ng vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tính đến ngày bị phát hiện 07/09/2023 là 41.520.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng). Nhưng được trừ mức tiền lãi cao nhất Bộ luật Dân sự cho phép 20%/1 năm tức 1,666%/1 tháng x 11 tháng 16 ngày của khoản vay 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), Nguyễn Thị Ph được hưởng 4.805.554 đồng (Bốn triệu tám trăm linh năm nghìn năm trăm năm mươi tư đồng). Nguyễn Thị Ph thu lợi bất chính số tiền 36.714.446 đồng (Ba mươi sáu triệu, bảy trăm, mười bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi sáu đồng). Chị Đinh Thị Ng chưa trả tiền vay gốc cho Nguyễn Thị Ph.
* Hành vi thứ hai: Vào cuối tháng 9/2022, chị Nguyễn Thị Như Q (Sinh năm 198x. Trú tại xóm K, xã LS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An) đến tiệm gội đầu của Nguyễn Thị Ph, tại xóm A, xã LS, huyện ĐL để hỏi vay Phương số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) với mục đích để buôn bán, làm ăn thì được Ph đồng ý với thoả thuận lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương đương 15%/1 tháng, 180%/1 năm, lãi suất tính theo tháng, mỗi tháng tính 30 ngày. Nguyễn Thị Ph yêu cầu chị Q viết giấy vay nợ, ký tên vào giấy vay, Ph dùng điện thoại Iphone 11 của bản thân quay video lại nội dung chị Q tự trình bày về việc vay nợ. Sau khi làm xong thủ tục vay tiền, Nguyễn Thị Ph đưa tiền cho chị Q. Đến tháng 11/2022, do chị Nguyễn Thị Như Q không có tiền trả lãi hàng tháng nên Nguyễn Thị Ph đã gọi chị Q đến và yêu cầu chị Quỳnh viết giấy vay nợ mới với số tiền 19.500.000 đồng (Mười chín triệu, năm trăm nghìn đồng) trong đó có số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng) là số tiền lãi trong hai tháng 10/2022 và tháng 11/2022. Do biết chị Nguyễn Thị Như Q không có khả năng tiếp tục trả lãi của khoản vay nên Nguyễn Thị Ph và chị Nguyễn Thị Như Q cùng thống nhất từ tháng 12/2022 trở về sau chị Nguyễn Thị Như Q phải trả hết số tiền 19.500.000 đồng (Mười chín triệu, năm trăm nghìn đồng) và không phải trả thêm khoản lãi nào nữa. Tổng số tiền Nguyễn Thị Ph thu lợi từ việc cho chị Nguyễn Thị Như Q vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ mức tiền lãi cao nhất mà Bộ luật dân sự cho phép 20%/1 năm tức 1,666%/1 tháng x 02 tháng của khoản vay 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), Nguyễn Thị Ph được hưởng 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Nguyễn Thị Ph thu lợi bất chính số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Chị Nguyễn Thị Như Q đã trả cho Nguyễn Thị Ph 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tiền gốc.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 105/CT-VKS-HS ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An quyết định truy tố Nguyễn Thị Ph về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên Cáo trạng, quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ph từ 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng đến 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ph phải trả lại tiền thu lợi bất chính cho chị Nguyễn Thị Như Q là 4.000.000 (Bốn triệu) đồng.
Truy thu từ bị cáo Nguyễn Thị Ph số tiền gốc dùng để cho vay lãi nặng mà bị cáo đã thu lại từ người vay là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
Truy thu từ chị Đinh Thị Ng số tiền vay gốc là 25.000.0000 (Hai mươi lăm) triệu đồng.
Truy thu từ chị Nguyễn Thị Như Q số tiền vay gốc còn lại là 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.
Truy thu từ bị cáo Nguyễn Thị Ph số tiền lãi suất theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự mà bị cáo thu lợi từ hành vi phạm tội mà có là 4.250.000 (Bốn triệu, hai trăm, năm mươi nghìn) đồng.
Xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị Ph không có ý kiến tranh luận; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Hội đồng xét xử thấy rằng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bày ý kiến đầy đủ trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên toà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ph thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố, Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 21/9/2022 Nguyễn Thị Ph, cho chị Đinh Thị Ng (Sinh năm 198x. Trú tại xóm B, xã BS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An) vay số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) lãi suất 14,4%/1 tháng, 172,8%/1 năm. Tính đến ngày 07/09/2023 số tiền lãi chị Đinh Thị Ng phải trả cho Nguyễn Thị Ph là 41.520.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, năm trăm, hai mươi nghìn) đồng. Sau khi trừ mức tiền lãi cao nhất Bộ luật dân sự cho phép là 20%/ 1 năm thì Nguyễn Thị Ph thu lợi bất chính số tiền 36.714.446 đồng (Ba mươi sáu triệu, bảy trăm, mười bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi sáu đồng). Thực tế Nguyễn Thị Ph đã thu tiền lãi của chị Đinh Thị Ng số tiền 32.400.000 đồng (Ba mươi hai triệu, bốn trăm nghìn đồng), trong đó thu lợi bất chính là 28.650.000 đồng (Hai mươi tám triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Chị Ngọc chưa trả tiền số tiền vay gốc 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng cho Nguyễn Thị Ph.
Vào cuối tháng 9/2022 Nguyễn Thị Ph cho chị Nguyễn Thị Như Q (Sinh năm 198x. Trú tại xóm K, xã LS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An) vay số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), lãi suất 15%/1 tháng, 180%/1 năm. Chị Nguyễn Thị Như Q sẽ phải trả tiền lãi cho Nguyễn Thị Ph 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng). Sau khi trừ mức tiền lãi cao nhất Bộ luật dân sự cho phép 20%/ 1 năm thì Nguyễn Thị Ph thu lợi bất chính số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Chị Nguyễn Thị Như Q đã trả số tiền vay gốc cho Nguyễn Thị Ph là 3.000.000 (Ba triệu) đồng, số tiền vay gốc còn lại chưa trả là 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.
Tổng cộng Nguyễn Thị Ph đã thông qua 02 giao dịch dân sự với 02 cá nhân cho vay tổng số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), với mức lãi suất thấp nhất là 172,8%/1 năm, mức lãi suất cao nhất là 180%/năm, thu lợi bất chính số tiền 40.714.446 đồng (Bốn mươi triệu, bảy trăm, mười bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi sáu đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Ph đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo là lợi dụng việc người vay tiền có nhu cầu vay tiền để trục lợi thông qua việc cho vay với lãi suất cao. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện trả lại toàn bộ tiền thu lợi bất chính cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt nên cần tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm vì vậy áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ nghiêm như mức đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương là phù hợp.
Xét bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng mà bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm nên cần tịch thu (Truy thu) sung ngân sách Nhà nước, cụ thể truy thu từ bị cáo Nguyễn Thị Ph là 3.000.000 (Ba triệu) đồng, truy thu từ chị Đinh Thị Ng là 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng, truy thu từ chị Nguyễn Thị Như Q là 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.
Đối với số tiền lãi suất trong hạn cho phép theo Bộ luật dân sự là tiền phát sinh từ hành vi phạm tội mà có do bị cáo thu từ chị Đinh Thị Ng nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước từ bị cáo Nguyễn Thị Ph là 3.750.000 (Ba triệu, bảy trăm, năm mươi nghìn) đồng.
Đối với số tiền lãi suất vượt quá hạn cho phép (Tiền thu lợi bất chính) mà bị cáo đã thu từ chị Đinh Thị Ng thì bị cáo đã trả lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính cho chị Đinh Thị Ng là 28.650.000 (Hai mươi tám triệu, sáu trăm năm mươi nghìn) đồng và chị Đình Thị Ngọc không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về việc truy thu từ bị cáo Nguyễn Thị Ph số tiền lãi suất trong hạn cho phép theo Bộ luật dân sự là 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng và buộc bị cáo Nguyễn Thị Ph phải trả lại cho chị Nguyễn Thị Như Q số tiền thu lợi bất chính 4.000.000 (Bốn triệu) đồng: Hội đồng xét xử thấy rằng đối với hành vi cho vay lãi nặng của bị cáo Nguyễn Thị Ph đối với chị Nguyễn Thị Như Q thì bị cáo chưa thu lợi bất chính số tiền 4.500.000 (Bốn triệu, năm trăm nghìn) đồng (gồm tiền lãi suất trong hạn cho phép theo Bộ luật dân sự và tiền lãi suất vượt quá hạn cho phép) từ hành vi này và thực tế chị Nguyễn Thị Như Q cũng chưa giao số tiền này cho bị cáo Nguyễn Thị Ph nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để truy thu số tiền lãi suất trong hạn cho phép theo Bộ luật dân sự từ bị cáo Nguyễn Thị Ph số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng và không có căn cứ buộc bị cáo phải trả lại số tiền thu lợi bất chính 4.000.000 (Bốn triệu) đồng cho chị Nguyễn Thị Như Q.
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 mà bị cáo Nguyễn Thị Ph sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu (hóa giá) sung ngân sách Nhà nước theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ph 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu (hóa giá) sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 11. Đặc điểm, tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước từ bị cáo Nguyễn Thị Ph số tiền gốc cho vay là 3.000.000 (Ba triệu) đồng và số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự là 3.750.000 (Ba triệu, bảy trăm, năm mươi nghìn) đồng.
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước từ chị Đinh Thị Ng số tiền vay gốc là 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước từ chị Nguyễn Thị Như Q số tiền vay gốc là 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Đô Lương; - Cơ quan CSĐT-Công an huyện Đô Lương; - Cơ quan THAHS-Công an huyện Đô Lương; - Sở Tư pháp Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Đô Lương; - Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Hà |