- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Sỹ Tiến - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Sỹ T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 98/2023/HS-ST Ngày: 25/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Sơn
2. Ông Phan Thanh Bắc
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi T Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/ QĐXXST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Sỹ T , tên gọi khác: không; sinh năm: 1979 tại Nam Định;
Nơi cư trú: Thôn 2, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Sỹ C (đã chết) và bà Trịnh Thị L; Bị cáo từng kết hôn và có một con chung với Nguyễn Thị H (đã ly hôn); Hiện có vợ là Lò Thị T và có 01 con chung. Tiền án: 01 tiền án, năm 2008 bị Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 17 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý tại bản án số 16/2008/HSST ngày 19/12/2008, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, chưa được xoá án tích; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngoài lần phạm tội trên, bị cáo chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật gì khác. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/01/2023; sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 15 phút ngày 03/01/2023, khi Bùi Sỹ T đang đi bộ ở khu vực thôn 2, xã Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác công an huyện Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi áo khoác bên trái T đang mặc 01 gói được gói bằng nilon màu trắng, miệng gói được hơ lửa hàn kín, bên trong chứa 0,32 gam Heroine. T khai nhận số ma túy trên có được là do trước đó vào khoảng 17 giờ 00' cùng ngày, T đi bộ từ nhà đến bản Pom Lót, xã Pom Lót, huyện Điện Biên với mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Đến nơi, T đã gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi được gói Heroine trên với giá 100.000 đồng. Mua xong T bỏ số ma tuý đó vào túi áo khoác bên trái đang mặc đi về, sau đó thì bị bắt.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra của cơ quan điều tra và quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Bản cáo trạng số: 48/CT-VKSĐB ngày 28/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Bùi Sỹ T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Sỹ T với mức hình phạt từ 17 tháng đến 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 0,32 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,28 gam thu giữ của bị cáo. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 21 giờ 15 phút ngày 03/01/2023, tại thôn 2, xã Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Bùi Sỹ T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,32 gam Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: bắt người phạm tội quả tang; niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, tại kết luận giám định, các lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Hành vi của T đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo Bùi Sỹ T có tội, bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi trên của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo phạm tội xuất phát từ động cơ nghiện chất ma túy, coi thường pháp luật; Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ khi còn sống là bệnh binh, là người có công với cách mạng. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội do cố ý khi chưa được xoá án tích đối với bản án số 16/2008/HS-ST ngày 19/12/2008 của Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề xuất áp dụng đối với bị cáo mới gần tương xứng với hành vi phạm tội, có phần hơi nặng nên không chấp nhận mà cân nhắc quyết định mức hình phạt phù hợp nhất.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, do bị cáo là đối tượng có thu nhập thấp, không có tài sản gì có giá trị lớn, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 0,32 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,28 gam thu giữ của bị cáo vì là chất nhà nước cấm tàng trữ lưu hành;
Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm của vụ án.
Về vấn đề khác có liên quan: Bùi Sỹ T khai mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ; Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với người này. Sau khi bị cáo bị bắt, ngày 07/01/2023 vợ của bị cáo là Lò Thị T đã sinh con, nên tại thời điểm xét xử bị cáo có hai người con.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người này đều đảm bảo tính hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 điều 136, khoản 1 điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố bị cáo Bùi Sỹ T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Bùi Sỹ T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 03/01/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ của bị cáo gồm 0,32 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,28 gam.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2023 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.)
4. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/4/2023).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát huyện ĐB; - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; - Công an huyện ĐB; - Chi cục Thi hành án DSHĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Nhà tạm giữ CAHĐB; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Bị cáo; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Ngọc |