vanban.org

Bản án 98/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu L được ly hôn anh Trần Văn V

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Trần Văn V có một con chung là Trần Hà M , sinh ngày 03/10/2018. Giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thừa kế tài sản"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu L được ly hôn anh Trần Văn V
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08-9-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Minh

Bà Nguyễn Thị Thoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 65/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu L ; địa chỉ: Thôn M , xã N , huyện C , thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn Việt; ĐKHKTT: Thôn C , xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án đề ngày 27 tháng 4 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Trần Văn V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ , huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2018, ngày 09/3/2018. Quá trình chung sống, chị L và anh V phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn V .

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Trần Văn V có một con chung là Trần Hà M , sinh ngày 03/10/2018. Chị L đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu L không đề nghị Tòa án giải quyết.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn là anh Trần Văn V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh V xác nhận về thời điểm vợ chồng kết hôn và quá trình chung sống, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng lối sống, tính cách, anh V làm ăn thua lỗ. Từ tháng 4 năm 2022 đến nay, chị L đã về ở hẳn nhà ngoại. Chị L khởi kiện xin ly hôn, anh không đồng ý.

- Về con chung: Anh và chị L có một con chung là Trần Hà M , sinh ngày 03/10/2018. Trường hợp Toà án giải quyết cho chị L ly hôn, anh xin được nuôi con, con chung hiện nay đang sống cùng với ông bà nội.

- Về tài sản chung: Anh V không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Nguyễn Thị Thu L ly hôn anh Trần Văn V . Giao con chung Trần Hà M , sinh ngày 03/10/2018 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung, chị L không yêu cẩu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị Thu L khởi kiện xin ly hôn bị đơn là anh Trần Văn V đang cư trú tại xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị L .

. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu L và anh Trần Văn V đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2018, ngày 09/3/2018 tại Ủy ban nhân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng). Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Thu L được ly hôn anh Trần Văn V t.

. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu Lvà anh Trần Văn Vcó một con chung là Trần Hà M , sinh ngày 03/10/2018. Để đảm bảo quyền lợi của các con chung và của các đương sự, giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị L và anh V không yêu cầu Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

. Về tài sản chung: Chị L và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu L được ly hôn anh Trần Văn V

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Trần Văn V có một con chung là Trần Hà M , sinh ngày 03/10/2018. Giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004546 ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị L đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Trần Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ