vanban.org

Bản án 98/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Linh T với bị đơn bà Vi Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lương Linh T được ly hôn với bà Vi Thị H. Về con chung: Giao hai con chung là Lương Nhật Linh, sinh ngày 19/01/2011 và Lương Trung H, sinh ngày 21/9/2012 cho bà Vi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Lương Linh T có nghĩa vụ đóng góp cho bà Vi Thị H số tiền c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Linh T - Vi Thị H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Linh T với bị đơn bà Vi Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trinh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Quang Hoạch;

Bà Đào Thị Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1157/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lương Linh T, sinh năm 1990; cư trú tại: ấp C, xã S, huyện B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa;

- Bị đơn: Bà Vi Thị H, sinh năm 1989; cư trú tại: Ấp C, xã S, huyện Trảng B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lương Linh T trình bày:

Sau thời gian quen biết, tìm hiểu; ông và bà Vi Thị H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã R, huyện M, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 193/2010 ngày 20/12/2010. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cuộc sống có nhiều áp lực nên ông, bà thường xuyên cãi vã, không còn tiếng nói chung. Ông, bà đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do tình cảm đã rạn nứt nên không thể hàn gắn được. Hiện vợ chồng không còn tình cảm với nhau và cũng đã sống ly thân một thời gian dài. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Vi Thị H.

+ Về con chung: Ông và bà Vi Thị H có 02 con chung là Lương Nhật L, sinh ngày 19/01/2011 và Lương Trung H, sinh ngày 21/9/2012. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu giao 02 con chung cho bà Vi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng/con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tuy nhiên, bị đơn bà Vi Thị H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Thẩm quyền giải quyết vụ án, việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án, gửi hồ sơ và tống đạt các văn bản tố tụng là đúng quy định của pháp luật. Việc xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

+ Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Giao hai con chung là Lương Nhật L, sinh ngày 19/01/2011 và Lương Trung H, sinh ngày 21/9/2012 cho bà Vi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Lương Linh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng/con. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

1.1 Nguyên đơn ông Lương Linh T khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn bà Vi Thị H có nơi cư trú tại ấp C, xã S, huyện B, tỉnh Đồng Nai nên xác định ông T là nguyên đơn, bà H là bị đơn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2, 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2 Nguyên đơn ông Lương Linh T có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Vi Thị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà H.

Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Ông Lương Linh T và bà Vi Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã S, huyện M, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 193/2010 ngày 20/12/2010 nên quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà H là hợp pháp.

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Lương Linh T trình bày, trong quá trình chung sống ông, bà thường xuyên cãi vã do áp lực cuộc sống khó khăn dẫn đến việc không còn tiếng nói chung. Ông, bà đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do tình cảm đã rạn nứt nên không thể hàn gắn được. Hiện vợ chồng không còn tình cảm với nhau và cũng đã sống ly thân một thời gian dài;

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng bà H không có mặt; Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà H; Tuy nhiên, bà H không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định bà H không mong muốn hàn gắn tình cảm hay tiếp tục xây dựng cuộc sống chung vợ chồng với ông T; Hôn nhân của ông T, bà H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông T, bà H được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

2.2 Về con chung: Ông T, bà H có 02 con chung là Lương Nhật L, sinh ngày 19/01/2011 và Lương Trung H, sinh ngày 21/9/2012. Quá trình giải quyết vụ án, ông T yêu cầu giao 02 con cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và hiện hai con cũng đang ở với bà H. Xét nguyện vọng của cả 02 con chung đều muốn được ở với mẹ; xét yêu cầu của nguyên đơn và việc cần thiết cho sự phát triển ổn định của trẻ; căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao hai con chung là Lương Nhật L, sinh ngày 19/01/2011 và Lương Trung H, sinh ngày 21/9/2012 cho bà Vi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Lương Linh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng/con.

2.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

2.4 Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung nên không đặt ra xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Lương Linh T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Linh T với bị đơn bà Vi Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lương Linh T được ly hôn với bà Vi Thị H.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Lương Nhật Linh, sinh ngày 19/01/2011 và Lương Trung H, sinh ngày 21/9/2012 cho bà Vi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Lương Linh T có nghĩa vụ đóng góp cho bà Vi Thị H số tiền cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng 2.500.000 đồng/tháng/con.

Kể từ ngày bà Vi Thị H có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Lương Linh T không cấp dưỡng nuôi con theo thỏa thuận như trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ông Lương Linh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Ông Lương Linh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001970 ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Ông Lương Linh T phải nộp tiếp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

4. Thi hành bản án của Tòa án: Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ