- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phan Ngọc Kh phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc Kh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình s; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình s; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98 /2022/HSST Ngày 12/10/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Tuyên và bà Phạm Hồng Thiêm
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Th y.
ại di n i n kiểm sát nhân dân huy n Thái Th y tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình – Kiểm sát viên
Trong ngày 12 tháng 10 năm 2022, tại tr s Tòa án nhân dân huyện Thái Th y t x sơ th m công khai v án hình s th lý số 80/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022, theo uy t định đưa v án ra t số 84A/2022/ ĐXX-H ngày 05 tháng 9 năm 2022, uy t định hoãn phiên tòa số 35/2022/H T- Đ ngày 16/9/2022 và uy t định hoãn phiên tòa số 39/2022/H T- Đ ngày 29/9/2022 đối v i bị cáo:
Họ và tên: Phan Ngọc Kh, Tên gọi khác: Không; Gi i tính: Nam; inh ngày 02/6/1991; Nơi sinh: huyện TT, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: số nhà A, tổ dân phố số 5, thị trấn D Đ, huyện TT, tỉnh Thái Bình; uốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động t do; Cha đẻ: Phan Văn D (đã ch t); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1970, trú tại thị trấn D Đ, huyện TT, tỉnh Thái Bình; Vợ là: Vũ Thị H, sinh năm 1991, nơi cư trú: số nhà A, tổ dân phố số 5, thị trấn D Đ, huyện TT, tỉnh Thái Bình; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền s : Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2022 đ n ngày 13/6/2022 được thay th biện pháp ngăn chăn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đ n nay.
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1960
Địa chỉ: thôn TP, xã TG, huyện TT, Thái Bình
(Đã chết ngày 03/6/2022)
* Người đại diện theo pháp luật của người bị hại:
1. C Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1926 (là mẹ đẻ) – Vắng mặt
Địa chỉ: thôn TP, xã TG, huyện TT, Thái Bình
2. Anh Trần văn T, sinh năm1996 (là con đẻ) – Có đơn xin xử vắng mặt
Địa chỉ: thôn TP, xã TG, huyện TT, Thái Bình
(Người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị Nh là anh Trần Văn T)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Chị Vũ Thị H, sinh năm 1991 (Có mặt)
Địa chỉ: số nhà A, tổ dân phố số 5, thị trấn D Đ, TT, Thái Bình;
* Người làm chứng:
1. Cháu: Nguyễn Thị Th, sinh năm 2006 – Vắng mặt
Người đại diện của cháu Th là bà Nguyễn Thị Th – là mẹ đẻ
Địa chỉ: thôn TP, xã TG, huyện TT, Thái Bình
2. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1981 – Xin xử vắng mặt
Địa chỉ: thôn TP, xã TG, huyện TT, Thái Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung v án được tóm t t như sau:
Bị cáo Phan Ngọc Kh là người có giấy ph p lái e ô tô hạng C do Bộ giao thông vận tải cấp ngày 03/3/2021. Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/6/2022, một mình điều khiển e ô tô nhãn hiệu Vinfas Fadil, loại 5 chỗ ngồi, biển kiểm soát 17A - 249.02, sơn màu ám đi trên uốc lộ 39 hư ng từ ã Thái Giang, huyện Thái Th y về thị trấn D Đ. Khi đ n Km 93+600 uốc lộ 39, thuộc địa phận thôn TP, xã TG, huyện TT, tỉnh Thái Bình, đây là đoạn giao nhau giữa uốc lộ 39 v i đường vào thôn Tiền Phong và thôn PLT, xã TG, huyện Thái Th y, tỉnh Thái Bình mặt đường e chạy rộng 10,5 m, được trải áp phan phẳng, nhẵn, trên mặt đường có vạch kẻ sơn vàng đứt quãng rộng 0,2 m t; tại bên phải đường theo chiều đi của bị cáo cách ngã tư giao nhau khoảng 400 m t có đặt biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau v i đường không ưu tiên (đường nhánh). Bị cáo điều khiển e đi phần đường bên phải theo chiều đi của mình, v i vận tốc khoảng 60 km/h, e có bật đèn chi u sáng. Khi đi qua ngã tư giao nhau, bị cáo phát hiện bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1960, trú tại thôn TP, xã TG, huyện Thái Th y đang ngồi trên chi c e đạp mini và dừng ngang giữa đường cách vạch kẻ giữa đường khoảng 1 m t để tránh e ô tô màu tr ng không rõ biển kiểm soát, do chủ quan nên bị cáo vẫn giữ nguyên tốc độ, bấm còi đi ti p, khi e ô tô của bị cáo cách vị trí bà M dừng khoảng 02 đ n 03 m t thì bất ngờ bà M đạp e đi sang đường (hư ng đi từ đường thôn TP đ n thôn PLT), bị cáo không kịp phanh nên toàn bộ đầu e phía trư c của bị cáo đâm vào phía bên phải e và người bà M, Bà M bị hất văng lên kính ch n gió phía trư c của e ô tô, e đạp bị đ y về phía trư c được khoảng 15 m t thì cả người và e văng uống bên phải đường, e ô tô do bị cáo điều khiển ti p t c đi thêm một đoạn khoảng 87 m t thì dừng và quay đầu e để đ n chỗ bà M, nhưng khi quay đầu e lại thì bị cáo thấy một số người dân ung quanh đó chạy ra và hô "tai nạn rồi", do tâm lý hoảng loạn và sợ bị người dân đánh nên bị cáo đi thẳng, rẽ về hư ng cầu V theo đường 456 về cây ăng ã TD rồi đ n uốc Lộ 39 và về nhà thị trấn D Đ, huyện TT mà không cứu giúp bà M. Khi về nhà bị cáo nói cho gia đình bi t việc mình vừa gây ra tai nạn, đ n rạng sáng ngày 04/6/2022, bị cáo t giác đ n đầu thú và giao chi c e ô tô biển kiểm soát 17A- 249.02 cho Công an huyện TT. Bà Mận t vong tại hiện trường do chấn thương sọ não và đa chấn thương; e ô tô bị hư hỏng phần đầu e và vỡ kính ch n gió phía trư c; e đạp bị hư hỏng.
- Bản k t luận giám định pháp y t thi số 128/KL-KTHS (PY) ngày 09/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình s Công an tỉnh Thái Bình: K t quả giám định chính: Đa chấn thương vùng đầu, mặt và toàn thân do tai nạn giao thông làm vỡ ương sọ vùng ch m thái dương trái, chảy máu não; gãy hai ương cẳng tay phải; gẫy ương đùi phải. Nguyên nhân ch t: Nạn nhân Nguyễn Thị M ch t do chấn thương sọ não và đa chấn thương;
- uá trình tranh t ng tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bị cáo là người có giấy ph p lái e ô tô hạng C do Bộ giao thông vận tải cấp ngày 03/3/2021, Hồi 19 giờ 30 phút ngày 03/6/2022 một mình điều khiển e ô tô nhãn hiệu Vinfas Fadil, loại 5 chỗ ngồi, biển kiểm soát 17A - 249.02, sơn màu ám đi trên uốc lộ 39 hư ng từ ã TG, huyện TT về thị trấn D Đ. Khi đ n Km 93+600 uốc lộ 39, thuộc địa phận thôn Tiền Phong, ã Thái Giang, huyện TT, tỉnh Thái Bình. Bị cáo điều khiển e đi phần đường bên phải theo chiều đi của mình, v i vận tốc khoảng 60 km/h, e có bật đèn chi u sáng. Khi đi qua ngã tư giao nhau, bị cáo phát hiện bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1960, trú tại thôn TP, xã TG, huyện TT đang ngồi trên chi c e đạp mini và dừng ngang giữa đường cách vạch kẻ giữa đường khoảng 1 m t để tránh e ô tô màu tr ng không rõ biển kiểm soát đi phía trư c, bị cáo K vẫn giữ nguyên tốc độ, bấm còi đi ti p, khi e ô tô của bị cáo cách vị trí bà M dừng khoảng 02 đ n 03 m t thì bất ngờ bà M đạp e đi sang đường nên bị cáo không kịp phanh nên toàn bộ đầu e phía trư c của Khánh đâm vào phía bên phải e và người bà M. Bị cáo đã phanh e nhưng xe ô tô ti p t c đi thêm một đoạn, bị cáo quay đầu e để đ n chỗ bà M, nhưng do tâm lý hoảng loạn và sợ bị người dân đánh nên bị cáo bỏ chạy về. Khi về nhà bị cáo nói cho gia đình bi t việc vừa gây ra tai nạn, đ n rạng sáng ngày 04/6/2022, bị cáo t giác đ n đầu thú và giao chi c e ô tô biển kiểm soát 17A-249.02 cho Công an huyện TT.
- Người đại diện theo pháp luật bị hại là c Nguyễn Thị Nh và anh Trần Văn T có lời khai và đơn trình bày: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình khoản tiền chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần và toàn bộ thiệt hại là 150.000.000 đồng theo thỏa thuận của hai gia đình. Gia đình đã nhận đủ số tiền 150.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác; có đơn in giảm nhẹ hình phạt đ n mức thấp nhất cho bị cáo; cho bị cáo hư ng án treo.
- Người có quyền lợi nghĩa v liên quan trong v án là chị Vũ Thị H (vợ của bị cáo) trình bày: Tối ngày 03/6/2022, bị cáo Kh đi làm về đ n nhà v i tâm trạng hoảng sợ, bị cáo có nói về việc vừa gây tai nạn giao thông, sáng s m ngày hôm sau bị cáo đã đ n cơ quan Công an để trình báo về s việc. Bị cáo đã nhờ chị thay mặt bị cáo giao tiền bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng, chị không đề nghị gì về số tiền này. Xe ô tô nhãn hiệu ô tô nhãn hiệu Vinfas Fadil, loại 5 chỗ ngồi, biển kiểm soát 17A - 249.02 do bị cáo điều khiển là tài sản chung của chị và bị cáo bị hư hỏng do tai nạn, cơ quan công an đã trả lại chi c e này, chị không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng: cháu Nguyễn Thị Th khai: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 03/6/2022 Th đang đi bộ đường thôn TP sang đường uốc lộ 39 thì thấy bà Nguyễn Thị M cùng thôn đạp e đạp một mình đi qua chỗ Th hư ng đ n dốc lên uốc lộ 39. Th thấy bà M đang sang đường uốc Lộ 39 đồng thời thấy 01 ô tô con khoảng 4 chỗ tối màu, không rõ biển số e, phóng v i tốc độ cao theo hư ng từ thành phố Thái Bình đ n thị trấn D Đ và đâm e vào người và e của bà M tạo ra ti ng "Rầm" và ti ng e đạp bị cày trên đường. au đó, Th thấy e ô tô dừng lại rồi lùi e khoảng 1 m t, có một người đàn ông thò đầu từ bên trái e, vị trí gh lái, người đàn ông không uống e để cứu bà M mà phóng chạy thẳng hư ng về D Đ; chị Nguyễn Thị C khai: Khoảng 19 giờ ngày 03/6/2022, chị ch con nhỏ đi trên tr c đường liên thôn TP hư ng đi đường 39, khi đi qua ngã tư giao nhau chị dừng lại quan sát thấy bên trái cách khoảng 350 m t có hai ánh sáng đèn e ô tô song song gần nhau. Khi chị đi đ n đầu ngõ nhà chị cách ngã tư khoảng 50 m t thì nghe ti ng "Bốp", chị dừng e nhìn về phía có ti ng động thì thấy trên đường 39 có một e ô tô đi ngược chiều v i e ô tô lúc trư c. au đó, chị ra hiện trường thấy bà Mận nằm ng a bất động, đầu ch ch hư ng cầu V, e đạp gần chỗ bà M.
Cáo trạng số 84/CT-VKSTT ngày 23 tháng 8 năm 2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình s (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s ). Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo; đề nghị căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình s ; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình s . Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14. Kiểm sát viên đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm 06 ( áu) tháng đ n 02 (Hai) năm 11 (mười một) tháng tù cho hư ng án treo, th thách 05 (Năm) năm. Không áp d ng hình phạt bổ sung. Công nhận thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và đại diện bị hại. Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe; Bị cáo phải nộp án phí hình s sơ th m.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội, in giảm nhẹ hình phạt, in được hư ng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
.Về hành vi, quy t định tố t ng của cơ quan ti n hành tố t ng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Th y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình s . úa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng. Như vậy, các hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã th c hiện là hợp pháp.
. Vào tối ngày 03/6/2022, khi tham gia giao thông đường bộ, bị cáo Phạm Khánh Ng đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ là nguyên nhân gây tai nạn giao thông, hậu quả bà M bị ch t. Khi tham gia giao thông, bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, thể hiện: Khi đ n đoạn đường khu v c ngã ba giao nhau giữa đường ưu tiên và đường không ưu tiên, bị cáo đã không quan sát, không giảm tốc độ đ n mức có thể dừng lại một cách an toàn. Vì th , khi phát hiện có người sang đường, bị cáo đã gây tai nạn giao thông, hậu quả làm ch t người, sau khi gây tai nạn giao thông bị cáo bỏ trốn không giúp đỡ người bị nạn. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp v i các chứng cứ khác của v án như biên bản tạm giữ, niêm phong phương tiện, tang vật liên quan đ n tai nạn giao thông lập ngày 03/6/2022 và ngày 04/6/2022; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đ n tai nạn giao thông, bản ảnh phương tiện; biên bản em t dấu v t trên đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TT lập ngày 06/6/2022; Biên bản khám nghiệm t thi, bản ảnh t thi bà Nguyễn Thị M; Bản k t luận giám định pháp y t thi số 128/KL-KTH (PY) ngày 09/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình s Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và toàn bộ các chứng cứ khác trong hồ sơ v án. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1,3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT- BGTVT uy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của e cơ gi i, e máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ ngày 29 tháng 08 năm 2019 của Bộ Giao thông vận tải; đã vi phạm khoản 17, 18 Điều 8, khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ đã âm phạm đ n trật t an toàn giao thông. Bị cáo là người trên 18 tuổi, có năng l c trách nhiệm hình s , th c hiện hành vi v i lỗi vô ý, hậu quả làm ch t người, sau khi gây tai nạn, bị cáo bỏ chạy không cứu giúp người bị nạn nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình s (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s ). Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là có cơ s , đúng quy định của pháp luật.
" iều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
…
17. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.
18. Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông".
" iều 11. Chấp hành báo hi u đường bộ
1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ"..
Thông tư số 31/2019/TT- BGTVT uy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của e cơ gi i, e máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ ngày 29 tháng 08 năm 2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định:
iều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận".;
iều 260.Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
. Bị cáo không phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình s quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình s . Bị cáo đã t nguyện bồi thường kh c ph c hậu quả, thành kh n khai báo nên được hư ng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình s . Bị cáo đầu thú, bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển e đạp qua đường thi u chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn cho phương tiện khác tham gia giao thông, vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, vì vậy bị cáo được hư ng thêm các tình ti t giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s . Ngoài ra gia đình bị hại cũng có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cũng cần em t khi quy t định hình phạt đối v i bị cáo.
. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình ti t tăng nặng, có nhiều tình ti t giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng t cải tạo. Vì vậy, cần áp d ng Điều 65 Bộ luật Hình s cho bị cáo hư ng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng có thể giáo d c bị cáo và phòng ngừa chung. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo d c bị cáo trong thời gian th thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp v i chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo d c.
. Về trách nhiệm dân s : Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận: Bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền: 150.000.000đồng (Đã bồi thường ong ngày 09/6/2022). Những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên công nhận thỏa thuận này.
. Về lý vật chứng: Xe ô tô nhãn hiệu ô tô nhãn hiệu Vinfas Fadil, loại 5 chỗ ngồi, biển kiểm soát 17A - 249.02 là e thuộc s hữu chung của vợ chồng bị cáo; 01 xe đạp hai tuýp lượn dạng e mini, sơn màu bạc là e của bà M. Ngày 23/6/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại e cùng giấy tờ e ô tô cho vợ chồng bị cáo; ngày 24/6/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại chi c e đạp cho anh Trần Văn T là con trai bà M theo th m quyền là đúng pháp luật. Bị cáo không hành nghề lái e ô tô nên cần trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái e số 340161001240 do Giám đốc giao thông vận tải cấp ngày 03/3/2021 cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình s sơ th m theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại trư c khi m phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên bị cáo không phải nộp án phí dân s sơ th m.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điểm c khoản 2 Điều 260; Điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 48; Điều 65 Bộ luật Hình s ; Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân s ; Điều 106, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình s . Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường v uốc hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc Kh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. X phạt bị cáo Phan Ngọc Kh 03 (Ba) năm tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 05 (Năm) năm; thời gian th thách tính từ ngày tuyên án sơ th m (ngày 12 tháng 10 năm 2022). Giao bị cáo Phan Ngọc Kh cho Ủy ban nhân dân thị trấn D Đ, huyện TT, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo d c bị cáo trong thời gian th thách. Trong thời gian th thách n u bị cáo cố ý vi phạm nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quy t định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp v i chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo d c bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì th c hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình s .
3. Về trách nhiệm dân s : Công nhận thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện theo pháp luật của bị hại. Bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 150.000.000đồng (Đã bồi thường ong ngày 09/6/2022).
4. X lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái e số 340161001240 do Giám đốc giao thông vận tải cấp ngày 03/3/2021 cấp cho bị cáo Phan Ngọc Kh.
5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án hình s sơ th m.
6.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ th m. Người đại diện hợp pháp của bị hại v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VK ND huyện TT; - VK ND tỉnh Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình - Công an huyện TT; - Chi c c THAD huyện TT; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại - tư pháp Thái Bình; - Lưu hồ sơ v án; - Lưu văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hương Lan |