- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V Vi phạm QĐVTGGTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1 TỈNH T2 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2022/HS-ST Ngày 25/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Trần Văn Hiểu.
Ông: Phạm Mã Siêu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Bà Phí Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2022/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2022/ HSST-QĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh năm 1985, tại thành phố PL, tỉnh H. Nơi cư trú: Tổ dân phố LL, phường CS, thành phố PL, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V1 và bà Phạm Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến 9/12 sau đó ở nhà lao động tự do; Quyết định xử phạt hành chính số 271 ngày 03/6/2014 của Công an thành phố PL, tỉnh H xử phạt 750.000đồng về hành vi dùng chai nhựa có xăng ném vào nhà người khác; bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Xuân V2, sinh năm 1960, trú tại thôn Ng, xã TL, huyện T1, tỉnh T2 (đã chết).
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Bùi Thị T3, sinh năm 1958; chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1983; anh Nguyễn Thế V3, sinh năm 1991, đều trú tại thôn Nghĩa, xã Tây Lương, huyện T1, tỉnh T2. Chị Nguyễn Thị X1, sinh năm 1981, trú tại phường BX; anh Nguyễn Thế V4, sinh năm 1985, trú tại xóm x, ĐL x, PX, đều thuộc thành phố T2, tỉnh T2 (bà Tăm là vợ; các anh chị X, Xuyến, V3, V4 là con của bị hại). Bà T3, các anh chị X, X1, V3 có giấy ủy quyền cho anh V4 giải quyết các thủ tục pháp lý liên quan đến vụ án.
(bà T3 có mặt; các đại diện hợp pháp khác vắng mặt).
- Những người làm chứng: Bà Hoàng Thị T4, sinh năm 1963; anh Hà Minh T5, sinh năm 1982, đều trú tại thôn Th, xã TL, huyện T1, tỉnh T2 (những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14giờ 30phút ngày 21/4/2022, Nguyễn Văn V điều khiển xe ôtô Biển kiểm soát xyz chở vật liệu bê tông asphalt lưu thông trên đường QL 37B theo hướng xã TL đi thị trấn T1 (hướng Đông Bắc - Tây Nam). Khi đang điều khiển xe ô tô trên địa phận thôn Th, xã TL, V phát hiện phía trước có ngã ba giao nhau giữa đường QL 37B với đường vào thôn Th, đường có vạch sơn gờ giảm tốc màu vàng nét đơn (có tác dụng cảnh báo cho người tham gia giao thông biết trước vị trí nguy hiểm cần phải giảm tốc độ và chú ý quan sát an toàn). V không giảm tốc độ mà tiếp tục điều khiển xe đi thẳng, khi cách ngã ba khoảng 20m V phát hiện thấy ông Nguyễn Xuân V2 một mình điều khiển xe đạp điện từ đường thôn Thượng ra QL 37B (hướng Tây Bắc - Đông Nam), V đã phanh xe và đánh lái sang phần đường bên trái theo chiều đi để tránh nhưng do cự ly khoảng cách giữa hai xe gần nên 1/3 giữa mặt trước bađờsốc đầu xe bên phải đa va chạm với mặt trước ngoài bên trái của khung xe đạp điện của ông V2 làm ông V2 ngã văng về phía lề đường bên trái, xe đạp điện đổ nghiêng phải trên mặt đường đầu xe quay hướng xã TL đi thị trấn T1. Sau khi va chạm xe ô tô tải tiến về phía trước khoảng 5 đến 7m thì V mới phanh và dừng xe lại, ông V2 được mọi người đi cấp cứu đến 23 giờ 40 phút cùng ngày thì ông V2 chết do mất máu cấp và đa chấn thương.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Lời khai của người làm chứng:
Bà Hoàng Thị T3 trình bày: Khoảng 14 giờ ngày 21/4/2022 khi bà đang ngồi bán hàng ở nhà thì nghe thấy tiếng động rất mạnh và tiếng xe bị kéo rê trên đường tại khu vực ngã ba đường thôn Th, xã TL và QL 37B ở cách nhà bà khoảng 20 m về hướng cầu TL, bà đi ra cửa nhà mới biết là tai nạn giao thông giữa xe tải chở asphalt đi hướng cầu TL-thị trấn T1 với xe đạp điện của một người đàn ông ở TL điều khiển. Bà nhìn thấy xe tải đang đỗ ở giữa đường hướng cầu TL-thị trấn T1, đằng sau cách 4-5m là xe đạp điện bị xe tải đè nát, người đàn ông bị thương nằm ở chân dốc lên cầu sang xóm trại, khi đó có nhiều người đến xem, người đàn ông bị thương vẫn nói chuyện với những người đến hỏi, sau đó xe cấp cứu đưa đi viện, đến hôm sau bà nghe tin người đàn ông bị tai nạn đã chết.
Anh Hà Minh T4 trình bày: Khoảng 14 giờ ngày 21/4/2022 khi anh đang sửa xe ở nhà thì thấy ông V2 đi qua, một lúc sau nghe thấy tiếng va chạm rầm một cái, anh chạy ra thấy ông V2 đang nằm ở chân dốc lên cầu sang xóm trại, phía sau đầu chảy máu, phía lề đường cách ông V2 khoảng 4m là xe đạp điện của ông V2 đã bị hư hỏng, còn hướng đi thị trấn T1 cách xe máy 7-8m là xe ô tô tải chở asphalt, dạng xe 3 chân nhã hiệu Howo, anh không nhớ biển số, sau đó người lái xe đi xuống, anh nói lánh đi để tránh người nhà nạn nhân đến có thể bị đánh, sau đó anh tập trung cùng mọi người gọi xe cấp cứu đưa ông V2 đi cấp cứu, đến sáng ngày 22/4/2022, anh biết tin ông V2 đã tử vong.
- Bản Kết luận giám định số 91/KLGĐTT-PC09 ngày 16/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2 kết luận nguyên nhân chết của ông Nguyễn Xuân V2: Đa chấn thương vùng ngực, lưng và toàn thân do tai nạn giao thông làm gãy 4 xương sườn bên phải, gãy 6 xương sườn bên trái, gây rách, thủng phổi hai bên. Nạn nhân Nguyễn Xuân V2 chết do mất máu cấp và đa chấn thương.
Tại Cáo trạng số 94/CT-VKSTH ngày 30/9/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố Nguyễn Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65; Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Kiểm sát viên đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Bùi Thị T3 xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn V đều khai nhận: Khoảng 14giờ 30phút ngày 21/4/2022, V điều khiển xe ôtô Biển kiểm soát xyzchở vật liệu bê tông asphalt lưu thông trên đường QL 37B theo hướng xã TL đi thị trấn T1. Khi đi đến địa phận thôn Th, xã TL, V phát hiện phía trước có ngã ba giao nhau giữa đường QL 37B với đường vào thôn Thượng, đường có vạch sơn gờ giảm tốc màu vàng nét đơn (có tác dụng cảnh báo cho người tham gia giao thông biết trước vị trí nguy hiểm cần phải giảm tốc độ và chú ý quan sát an toàn). V tiếp tục điều khiển xe đi thẳng, khi cách ngã ba khoảng 20m V phát hiện thấy ông Nguyễn Xuân V2 một mình điều khiển xe đạp điện từ đường thôn Thượng ra QL 37B (hướng Tây Bắc - Đông Nam), V đã phanh xe và đánh lái sang phần đường bên trái theo chiều đi để tránh nhưng do cự ly khoảng cách giữa hai xe gần nên 1/3 giữa mặt trước bađờsốc đầu xe bên phải đa va chạm với mặt trước ngoài bên trái của khung xe đạp điện của ông V2 làm ông V2 ngã văng về phía lề đường bên trái, xe đạp điện đổ nghiêng phải trên mặt đường đầu xe quay hướng xã Tây Lương đi thị trấn T1. Sau khi va chạm xe ô tô tải tiến về phía trước khoảng 5 đến 7m thì V mới phanh và dừng xe lại, ông V2 được mọi người đi cấp đến 23 giờ 40 phút cùng ngày thì ông V2 chết do mất máu cấp và đa chấn thương.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn V phù hợp và được chứng minh bằng: Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T1 lập ngày 21/4/2022; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T1 lập ngày 25/4/2022; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T1 lập ngày 25/4/2022; Biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 91/KL-KTHS(PY) ngày 16/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2; Bản kết luận giám định số 98/KTHS(ĐT) ngày 15/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2; Lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác.
Hành vi của Nguyễn Văn V đã vi phạm khoản 23 Điều 8, Điều 9 Luật giao thông đường bộ “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”...; khoản 3 Điều 4 và khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện cầu, đường mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố khác để đảm bảo an toàn giao thông” và “Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức” và gây hậu quả làm chết 01 người nên đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
a) Làm chết người;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự an toàn xã hội, trật tự công cộng, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; có lỗi khi tham gia giao thông không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ, không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để giáo dục riêng với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; đại diện gia đình bị hại có đơn, tại phiên tòa xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị hại là ông Nguyễn Xuân V2 cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông đến nơi giao nhau, ngã ba đường thiếu quan sát dẫn đến tai nạn giao thông; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần xử phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Hội đồng xét xử cũng xét bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, bị hại cũng có một phần lỗi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường xong số tiền 100.000.000 đồng cho gia đình người bị hại, gia đình người bị hại không có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã quản lý: Cơ quan điều tra đã quản lý 01 xe ôtô BKS xyz; 01 xe đạp điện sơn màu ghi trắng có số khung *51713051510313*. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ôtô BKS xyz là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần S địa chỉ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; 01 xe đạp điện là tài sản hợp pháp của gia đình ông Nguyễn XuânV2 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường CS, thành phố PL, tỉnh H giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, trường hợp thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cho bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của bộ luật hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Không đặt ra giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra Công an huyện T1, tỉnh T2 trả lại 01 xe ôtô BKS xyz là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần S địa chỉ huyện Tr, tỉnh N; 01 xe đạp điện là tài sản hợp pháp của gia đình ông Nguyễn XuânV2.
5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn V, bà Bùi Thị T3 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 25/11/2022. Các đại diện hợp pháp khác của ông Nguyễn Xuân V2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh T2; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T2; - Sở Tư pháp tỉnh T2; - UBND xã CS, PL, H; - VKSND huyện T1; - Công an huyện T1; - Chi cục THADS huyện T1; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đồng Ngọc Huyền |