vanban.org

Bản án 98/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Tr phạm tội “Mua bá n trái phép chất ma túy”

000.000đ (năm triệ u đồ ng) để nộ p vào Ngân sách Nhà nước. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,2111gam (không phẩy hai nghìn một trăm mườ i một gam) mẫ u vật gử i giá m đị nh và toàn bộ bao gói quả n lý củ a Nguyễ n … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Đức Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Tr phạm tội “Mua bá n trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2022/HS-ST
Ngày 28 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Tân;

Bà Nguyễn Thị Đoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Khá nh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức Tr, sinh ngày 13/11/1988 tại xã T, huyệ n Qu, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Qu, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức Ph, sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; có vợ: Nguyễn Thị Bích Ng, sinh năm 1987 và 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiề n sự : Không; bị tạm giữ từ ngày 23/6/2022 đến ngày 29/6/2022 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Bá T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

- Người chứng kiến:

+ Ông Trần Văn S, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn X, xã X1, huyện Qu, tỉnh Thái Bình (vắng mặt);

+ Ông Ngô Quang Kh, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn M, xã X1, huyện Qu, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 23/6/2022, tại ngã ba đường ĐH82, thôn X2, xã X1, huyện Qu, tỉnh Thái Bình, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Bình phối hợp với Đoàn Trinh sát số 01, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển Việt Nam và Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện Nguyễn Đức Tr có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Bá T1, nên đã yêu cầu cả hai đưa phương tiện về trụ sở Ủy ban nhân dân xã X1làm việc. Tại đây, tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện tại túi quần trái phía trước T1 mặc 02 gói giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng, T1 khai là ma túy, loại Heroine vừa mua của Tr với số tiền 400.000 đồng để sử dụng; tại túi quần phải phía trước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, lắp sim thuê bao số ZzYYzGGgJY, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, T1 khai chiếc điện thoại là phương tiện dùng để liên lạc với Tr mua ma túy, tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng là tiền Tr trả lại T1 khi mua 02 gói ma túy. Kiểm tra người Tr, phát hiện tại túi quần trái phía trước 04 gói giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng, Tr khai là ma túy, loại Heroine để bán kiếm lời; tại túi quần phải phía trước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, lắp sim thuê bao số ZtkzYkYZJb; tại túi quần phải phía sau 01 ví giả da màu đen có số tiền 2.000.000 đồng, gồm 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (01 tờ có số seri CE1507947), 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng, Tr khai điện thoại là phương tiện dùng để liên lạc bán ma túy cho T1. Trong số 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có 01 tờ tiền của T1 trả để mua 02 gói ma túy. Kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, biển kiểm soát GYTY-gztt Tr điều khiển và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc đen, biển kiểm soát 17B5-ktc.bk T1 điều khiển không phát hiện được gì. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý 02 chiếc xe mô tô, niêm phong 06 gói vật chứng và số tiền 2.100.000 đồng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức Tr tại Thôn C, xã T, huyện Qu, quản lý tại nền phòng khách 01 cân điện tử vỏ màu xanh đen đã cũ.

Bản kết luận giám định số 267/KL-KTHS(MT) ngày 24/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật quản lý của Nguyễn Đức Tr gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2426 gam (không phẩy hai nghìn bốn trăm hai mươi sáu gam). Mẫu vật quản lý của Nguyễn Bá T1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,0668 gam (không phẩy không nghìn sáu trăm sáu mươi tám gam). Heroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ”.

Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSQP ngày 09/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Đức Tr về tội “Mua bá n trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Đức Tr về tội “Mua bá n trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điề u 251; khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2022; phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồ ng đế n 7.000.000 đồ ng để nộ p vào Ngân sách Nhà nước . Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiế n tranh luậ n gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thái Bình, Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo; ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai, khoảng 14 giờ ngày 23/6/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô từ nhà đến khu công nghiệp G, thuộc xã Đ5, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình mua của một người đàn ông khoảng 45 tuổi, không biết tên, địa chỉ 06 gói ma túy loại Heroine với số tiền 600.000 đồng để bán kiếm lời. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Phạm Bá T1 điện thoại cho bị cáo hỏi mua 02 gói ma túy với số tiền 400.000 đồng, bị cáo đồng ý và hẹn gặp T1 ở ngã ba thôn X2, xã X1, huyện Qu. Khoảng 19 giờ, bị cáo điều khiển xe mô tô đến chỗ hẹn và đưa 02 gói ma túy cho T1. T1 nhận ma túy cho vào túi quần rồi lấy 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng đưa cho bị cáo, bị cáo lấy 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng trả lại T1 thì bị bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và đượ c chứ ng minh bằ ng cá c tà i liệ u , chứ ng cứ : Biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản quản lý , niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình lập cù ng ngày 23/6/2022; biên bả n ghi lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến; bản kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ ngày 23/6/2022, tại ngã ba đường ĐH82, thôn X2, xã X1, huyện Qu, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Đức Tr đã có hành vi bán trái phép 02 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,0668 gam cho Phạm Bá T1 lấy số tiền 400.000 đồng. Ngoài ra, Tr còn cất giấu tại túi quần trước bên trái 04 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,2426 gam để bán kiếm lời. Tổng khối lượng Heroine Nguyễn Đức Tr bán và tàng trữ để bán trái phép là 0,3094 gam.Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bá n trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tội mua bán trái phép chất ma tuý

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Mua bá n trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo hiể u được tác hại của ma túy và biết rõ pháp luật nghiêm cấm hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy bị cáo phải chịu mứ c á n tương xứ ng vớ i hà nh vi bị cá o đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra , truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo trung thực toàn bộ hành vi phạm tội , do đó đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự

“Ngườ i phạ m tộ i thà nh khẩ n khai bá o” theo quy đị nh tạ i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đố i vớ i bị cáo như đã phân tí ch trên, cầ n áp dụng hình phạt tùcó thờ i hạ n, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội với mứcán như đạ i diệ n Việ n kiể m sá t đề nghị, để giáo dục bị cáo và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thực hiện hà nh vi mua bá n ma túy nhằm mục đích kiếm lời , vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đố i vớ i bị cá o như mứ c đạ i diệ n Việ n kiể m sá t đề nghị là phù hợ p vớ i quy đị nh tại khoản 5 Điề u 251 Bộ luật Hình sự .

Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo, do đó cơ quan Điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

Trong vụ án này, Phạm Bá T1 đã có hành vi mua trái phép 02 gói Heroine của bị cáo mục đích để sử dụng, do Phạm Bá T1 chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi liên quan đến ma túy, khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Công an tỉnh Thái Bình đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Bá T1 là đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của Phạm Bá T1 02 gói và của Nguyễn Đức Tr 04 gói đều có đặc điểm ngoài là giấy trắng có dòng kẻ, trong có chất bột màu trắng, kết quả giám định kết luận là ma túy, loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu để tiêu hủy; quản lý của Nguyễn Đức Tr 2.000.000 đồng, trong đó 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số seri CE15007947, OO14033243, HL14739823; 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri KG14409767 và LQ19813506; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri LD17354260, 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, lắp sim số thuê bao 0853.454.026 và 01 cân điện tử vỏ màu xanh đen; quản lý của Phạm Bá T1 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri JQ13406043 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, lắp sim số thuê bao ZzYYzGGgJY. Đối với tài sản, đồ vật quản lý của Nguyễn Đức Tr và Phạm Bá T1 trên có 400.000 đồng thu của Tr là tiền bán ma túy mà có cầ n tị ch thu; 02 chiếc điện thoại của Tr và T1 sử dụng giao dịch mua bán ma túy, T1 bị xử lý hành chính nhưng không có nhu cầu xin lại điện thoại trên nên tịch thu hóa giá nộ p và o ngân sá ch Nhà nướ c . Chiếc cân điện tử đã cũ, không còn giá trị sử dụng và 02 sim điện thoại cần tịch thu tiêu hủy; 1.600.000 đồng và chiếc ví giả da màu đen không liên quan đến tội phạm trả lại cho Tr; trả lại Phạm Bá T1 100.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn đen, biển kiểm soát GYTY-gztt là tài sản của chị Nguyễn Thị Bích Ng (vợ bị cáo) được mua bằng nguồn tiền riêng của chị Ng. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua và bán ma túy vào chiều tối ngày 23/6/2022 chị Ng không biết. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 17B5-ktc.bk là tài sản Phạm Bá T1 mượn của anh Nguyễn Quang H5, quá trình điều tra xác định anh H5không biết T1 đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện để đi mua ma túy. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ đã trả lại xe mô tô cho chị Ng và anh H5là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Tr phạm tội “Mua bá n trái phép chất ma túy”

- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Đức Tr 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2022.

Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự , phạt bổ sung bị cáo

5.000.000đ (năm triệ u đồ ng) để nộ p vào Ngân sách Nhà nước.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,2111gam (không phẩy hai nghìn một trăm mườ i một gam) mẫ u vật gử i giá m đị nh và toàn bộ bao gói quả n lý củ a Nguyễ n Đức Tr và 0,0577 gam (không phẩy không nghìn năm trăm bảy mươi bả y gam) mẫ u vật gử i giá m đị nh và toàn bộ bao gói quả n lý củ a Phạm Bá T1 trong 02 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 267/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.

Tịch thu 400.000đ (bốn trăm nghì n đồ ng) quản lý của bị cáo Nguyễ n Đức Tr để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen của bị cáo Nguyễ n Đức Tr và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen của Phạm Bá T1 để hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu để tiêu hủy 01 sim điện thoại số thuê bao ZzYYzGGgJY của Phạm Bá T1; 01 sim điện thoại số thuê bao ZtkzYkYZJb và 01 cân điện tử vỏ màu xanh đen của bị cáo Nguyễ n Đức Tr.

Trả lại bị cáo Nguyễ n Đức Tr 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 ví giả da màu đen.

Trả lại Phạm Bá T1 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 12/9/2022.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễ n ĐứcTr phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ