vanban.org

Bản án 98/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 09/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Đức Y 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/9/2022. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 xi lanh, 01 ống Nôvôcain và toàn bộ số ma túy thu giữ của Trần Đức Y được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2022/HS-ST
Ngày 09 – 12 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thực và bà Phạm Thị Huệ.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2022; Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 94/2022/TLST-HS ngày 10/11/2022; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2022/QĐXXST-HS ngày 28/11/2022 đối với bị cáo:

Trần Đức Y, sinh ngày 14/8/1983 tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn S, xã Hồng An, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Trần Đức P, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1982 (đã ly hôn), có hai con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Từ tháng 3/2002 đến tháng 01/2004 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Tiểu đoàn huấn luyện, Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không không quân. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/9/2022 đến ngày 05/9/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Thanh M, sinh năm 1979. Nơi cư trú: thôn F, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

+ Anh Lê Văn K, sinh năm 1976. Nơi cư trú: thôn R, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 02/9/2022, tại khu vực đường ĐT453 thuộc địa phận thôn Dương Xá, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà; tổ công tác Công an huyện Hưng Hà kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay trái của Trần Đức Y 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Y khai đó là ma túy loại Hêrôin, Y mua để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ.

Công an huyện Hưng Hà tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn thu giữ của Y: 01 xi lanh, 01 ống Nôvôcain đều chưa qua sử dụng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đức Y, cơ quan điều tra không quản lý, thu giữ đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Bản kết luận giám định số 344/KL-KTHS(MT) ngày 05/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,1550 gam (không phẩy một nghìn năm trăm năm mươi gam).

Bản Cáo trạng số 99/CT-VKSHH, ngày 09/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố Trần Đức Y về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Trần Đức Y khai nhận: do bị cáo nghiện ma túy nên vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 02 tháng 9 năm 2022, bị cáo đang ở nhà thì có Hưng (là bạn nghiện không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không nhớ biển kiểm soát đến rủ và chở bị cáo đi đến khu vực cầu Lê, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà mua ma túy để sử dụng; tại đây bị cáo gặp và nhờ người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết họ, tên, địa chỉ ở thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà mua hộ gói ma túy trên với giá 200.000 đồng. Bị cáo cầm gói ma túy đi tìm nơi sử dụng thì bị công an huyện Hưng Hà kiểm tra, bắt quả tang đang tàng trữ ma túy như nội dung đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Trần Đức Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/9/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, quyết định án phí hình sự theo luật định.

Bị cáo Trần Đức Y đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1, điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 17 giờ 45 phút ngày 02/9/2022 tại trụ sở Công an xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà (bút lục 34, 35), biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 19 giờ 10 phút ngày 02/9/2022 tại trụ sở công an xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà (bút lục 36), bản kết luận giám định số 344/KL-KTHS(MT) ngày 05/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục 45), biên bản ghi lời khai người làm chứng là anh Phạm Thanh Minh, anh Lê Văn Kiên (bút lục 79 đến 86).

Như vậy có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/9/2022, tại khu vực đường ĐT453 thuộc địa phận thôn Dương Xá, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Trần Đức Y đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1550 gam (không phẩy một nghìn năm trăm năm mươi gam) ma tuý loại Hêrôin, mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…; c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Về tính chất mức độ nghiêm Y của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm Y đến sức khỏe và làm suy kiệt kinh tế gia đình của người sử dụng, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước cũng đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán,... trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nguồn gốc ma túy và người đàn ông tên Hưng đi mua ma túy cùng bị cáo vào ngày 02/9/2022 quá trình điều tra, xác minh và tại phiên tòa không xác định được người đàn ông tên Hưng địa chỉ cụ thể ở đâu và không xác định được danh tính người mà bị cáo khai đã mua ma túy hộ bị cáo do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Về xử lý vật chứng của vụ án số ma túy cơ quan điều tra quản lý của bị cáo sau khi được giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 344/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 xi lanh; 01 ống Nôvôcain là dụng cụ để bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản ,2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Đức Y 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/9/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 xi lanh, 01 ống Nôvôcain và toàn bộ số ma túy thu giữ của Trần Đức Y được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 344/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/11/2022).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Đức Y phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Đức Y có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

Cỡ chữ