- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hồng P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2021/HS-ST Ngày 10-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Tấn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phước
Ông Đào Khel
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương-Kiểm sát viên.
Ngày 10-8-2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2022/TLST-HS ngày 23-6-2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2022/QXXST-HS ngày 29-7-2022 đối với bị cáo:
Trần Hồng P, sinh năm 1992 tại Sóc Trăng; Nơi thường trú: ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị U; Có 02 người con, lớn sinh năm 2010 và nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-3-2022 cho đến nay. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 35 phút, ngày 10-3-2022, Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Ma túy-Công an thành phố S kết hợp với Công an phường 6, thành phố Sóc Trăng, tiến hành kiểm tra hành chính khách sạn “Phạm G 2” tại Số 28 đường Đ, Khóm 3, Phường 6, thành phố S. Tại phòng số 202, lúc này trong phòng gồm có: Trần Hồng P, Trần Vũ Triệu P, Lê Thị Huyền T, Lê Thị T, Bùi Thị Anh T, Nguyễn Minh C đang có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, qua kiểm tra phát hiện trong túi xách của P có 01 gói nylon trong, có viền màu đỏ, bên trong gói nylon chứa nữa viên nén màu xám hình chữ nhật, nghi vấn là chất ma túy nên đã tiến hành thu giữ và niêm phong.
Qua điều tra, được biết: Vào khoảng 13 giờ ngày 09-3-2022, P cùng với C, T, Th, N, C và B nhậu cùng với nhau ở quán “Hồ S” tại Số 179 đường Nguyễn Đình C, Khóm 3, Phường 4, thành phố S, nhậu đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ nhậu. Lúc này, C và B về, còn P, C, T, Th và N ngồi nói chuyện và rủ nhau hùn tiền mua ma túy để sử dụng thì cả nhóm đều đồng ý. Sau đó, C gọi qua ứng dụng Zalo cho người nam thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) hỏi mua 04 viên thuốc lắc và ma túy loại Ketamine cho 05 người sử dụng, thì được người thanh niên đồng ý bán với giá 2.500.000 đồng, hẹn giao nhận ma túy và tiền tại khu vực phía trước quán Hồ S. Một lúc sau, người thanh niên lạ mặt đến khu vực trước quán Hồ S và gọi cho C ra lấy ma túy. Sau khi có được ma túy, cả nhóm thống nhất đến khách sạn “Phạm Gi” số 28, đường Đ, Khóm 3, Phường 6, thành phố Sóc Trăng, thuê phòng để sử dụng ma túy. Sau đó, Cảnh điều khiển xe mô tô biển số 83P2-999.26 chở P đi trước đến khách sạn Phạm Gia 2. Khi đến khách sạn Phạm G 2, thì gặp Phạm Tuấn K là chủ khách sạn, do Cảnh là bạn của K và K có việc gấp nên K nhờ Cảnh trông coi khách sạn giùm cho K để K đi ra ngoài một lúc, thì C đồng ý. Tuy nhiên, C và P ở khu vực dưới sảnh của khách sạn để coi khách sạn, coi khách sạn một lúc thì Cảnh và P không trông coi mà cùng nhau đi lên lầu và mở cửa vào phòng số 202, do phòng 202 lúc này không có khách thuê. Sau khi C và P vào phòng một lúc thì T, Th, Ng và P đến rồi cùng nhau vào phòng số 202, chia ma túy cùng nhau sử dụng hết ma túy. Đến khoảng 01 giờ ngày 10-3-2022, do thiếu gối nằm nên P và Ng đi qua phòng kế bên lấy thêm gối. Khi qua phòng kế bên, P phát hiện dưới ngăn bàn trong phòng có 01 gói nylon trong, bên trong gói nylon có nữa viên thuốc lắc màu xám nên đã lấy bỏ vào trong túi xách đem về phòng số 202 cất giấu, mục đích là để sử dụng. Về lại phòng 202 một lúc thì Công an đến kiểm tra, phát hiện nữa viên thuốc lắc trong túi xách của P nên đã tiến hành thu giữ và niêm phong.
Tại Kết luận giám định số 24/KLMT-KTHS ngày 11-3-2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu viên nén màu xám được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1960 gam, loại MDMA.
Tại Cáo trạng số 79/CT-VKS.TPST ngày 20-6-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Trần Hồng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 24/GĐMT-PC09 ngày 11-3-2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự-CA tỉnh Sóc Trăng, có chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Phạm Thanh Trường Sơn, trợ lý giám định Nguyễn Hoàng Lâm Phi và Điều tra viên Nguyễn Hồng Thanh Tân; 01 túi xách màu đen; 01 đĩa sứ hình tròn trên mặt đĩa có chất bột màu trắng; 01 thẻ sim có chữ Vinaphone;
Trả lại cho bị cáo Trần Hồng P: 01 điện thoại di động màu đen, bạc có chữ Iphone S, bên trong có sin số 0796366565, ký hiệu "ĐTP".
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Bị cáo là người nghiện ma túy nên vào khoảng 21 giờ ngày 09-3-2022, bị cáo cùng với C, T, Th và Ng rủ nhau cùng hùn tiền để mua ma túy sử dụng thì cả nhóm đồng ý, C mới liên hệ mua 04 viên thuốc lắc và Ketamine của người thanh niên lạ mặt với giá là 2.500.000 đồng rồi đi đến thuê phòng ở khách sạn "Phạm G" tại Số 28 đường Đ, Khóm 3, Phường 6, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cùng nhau sử dụng ma túy. Khi đến khách sạn "Phạm G" thì bị cáo và C đi lên lầu mở phòng số 202 rồi cùng với Trang, Thư và Nguyên và Phú sử dụng ma túy hết số ma túy vừa mua. Đến khoảng 01 giờ ngày 10-3-2022, bị cáo đi qua phòng kế bên để lấy gối nằm thì bị cáo phát hiện dưới ngăn bàn có 01 gới nylon bên trong có nữa viên thuốc lắc màu xám nên lấy bỏ vào túi xách đem về phòng 202 cất giấu để sử dụng thì bị bắt quả tang thu giữ ma túy.
Đối với bị cáo Trần Hồng P đã cất giấu nữa viên thuốc lắc nhằm mục đích sử dụng, qua giám định là ma túy có khối lượng (trọng lượng) là 0,1960 gam, loại MDMA. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.
. Đối với Nguyễn Minh C, Trần Vũ Triệu P, Lê Thị Huyền T, Lê Thị Thảo N, Bùi Thị Anh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Điều tra-Công an thành phố Sóc Trăng đã ra Quyết định xử phạt vi hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với người nam thanh niên đã đem ma túy đến bán cho Nguyễn Minh C nhưng không rõ họ tên và nơi cư trú cụ thể nên cơ quan Điều tra chư làm việc được. Đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Phạm Tuấn K là chủ khách sạn “Phạm G”, khi Nguyễn Minh C và Trần Hồng P đến khách sạn, K nhờ C trông coi khách sạn giùm cho K, trong lúc Khanh chưa về thì C và P tự ý lên phòng 202, sau đó cùng với Trần Vũ Triệu P, Lê Thị Huyền T, Lê Thị T Nguyên, Bùi Thị Anh T cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Việc Nguyễn Minh C, Trần Hồng P, Trần Vũ Triệu P, Lê Thị Huyền T, Lê Thị Thảo Ng, Bùi Thị Anh T, cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại khách sạn của Khanh thì Khanh không biết nên không xem xử lý đối với hành vi của Phạm Tuấn Khanh.
. Về xử lý vật chứng của vụ án như sau:
Đối với vật chứng là 01 gói niêm phong chứa ma túy, 01 túi xách, 01 đĩa sứ, 01 thẻ sim có chữ Vinaphone là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật dùng để sử dụng và cất giấu ma túy, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động màu đen số 0796366565 là của cá nhân bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào điểm a, c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt bị cáo Trần Hồng P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10-3-2022.
2. Về xử lý vật chứng của vụ án theo Phiếu Nhập kho số NK00084 ngày 20-6-2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng như sau:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 24/GĐMT-PC09 ngày 11-3-2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự-CA tỉnh Sóc Trăng, có chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Phạm Thanh Trường Sơn, trợ lý giám định Nguyễn Hoàng Lâm Phi và Điều tra viên Nguyễn Hồng Thanh Tân; 01 túi xách màu đen; 01 đĩa sứ hình tròn trên mặt đĩa có chất bột màu trắng; 01 thẻ sim có chữ Vinaphone;
Trả lại cho bị cáo Trần Hồng P: 01 điện thoại di động màu đen, bạc có chữ Iphone S, bên trong có sin số 0796366565, ký hiệu "ĐTP".
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố Sóc Trăng;
- Công an thành phố Sóc Trăng;
(Đã ký)
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
Lâm Tấn Vinh
- Lưu hồ sơ.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước
Đào Khel
Lâm Tấn Vinh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố Sóc Trăng;
- Công an thành phố Sóc Trăng;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
Lâm Tấn Vinh
- Người bào chữa;
- Lưu hồ sơ.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Châu
Đào Khel
Lâm Tấn Vinh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố Sóc Trăng;
- Công an thành phố Sóc Trăng;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
Lâm Tấn Vinh
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Lưu hồ sơ.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Châu
Huỳnh Phước
Lâm Tấn Vinh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố Sóc Trăng;
- Công an thành phố Sóc Trăng;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
- Bị hại;
Lâm Tấn Vinh
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Lưu hồ sơ.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Châu
Huỳnh Phước
Lâm Tấn Vinh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố Sóc Trăng;
- Công an thành phố Sóc Trăng;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- UBND Phường 4, TPST;
- UBND Phường 8, TPST;
Lâm Tấn Vinh
- Bị cáo;
- Người đại diện hợp pháp;
- Người bào chữa;
- Lưu hồ sơ.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Châu
Huỳnh Phước
Lâm Tấn Vinh
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố Sóc Trăng; - Công an thành phố Sóc Trăng; - CQTHAHS – Công an thành phố Sóc Trăng; - Đội Tổng hợp-Công an thành phố Sóc Trăng; - Chi cục THADS thành phố Sóc Trăng; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ. THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hà Văn Châu Huỳnh Phước | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Tấn Vinh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Tấn Vinh |