- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hữu B phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu B phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2021/HS-ST Ngày: 30 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Phương
Ông Lê Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2021/HSST ngày 25/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103 /2021/QĐXXST - HS ngày 15/12/2021 đối với bị cáo:
Phạm Hữu B - sinh năm: 1968 Nơi cư trú: thị trấn P, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Hữu T (đã chết) và bà Trần Thị L; có vợ là Trịnh Thị T và 03 con; tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 15/3/2021 bị Công an thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị áp dụng Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Phạm Hữu H
- sinh năm 1962. (có mặt)
Địa chỉ: thị trấn P, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm Hữu D
- sinh năm 1971. (có mặt)
Địa chỉ: thị trấn P, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm Tuấn A - sinh năm 1974. (có mặt) Địa chỉ: thị trấn P, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/10/2021, Phạm Hữu B (đang có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc) cùng Phạm Tuấn A cùng ở thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đang ngồi uống nước dưới chiếu tại gian bếp nhà B; lúc này Phạm Hữu D, Phạm Hữu H bế cháu đến chơi. Đến 09 giờ 40 phút cùng ngày, H thấy cháu của mình cầm 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây đã cũ ngồi chơi, H nói với mọi người “mưa gió thế này hay ta làm vài ván phỏm ù 50 cho vui”, tất cả đều đồng ý. H lấy bài từ cháu bé để chia bài cho mọi người cùng chơi. Đến 10 giờ cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại chiếu bạc số tiền 800.000đ; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây và 01 chiếu nhựa.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Hữu B khai nhận: Trước khi đánh bạc có 120.000đ, bỏ cả xuống chiếu để đánh bạc. Các đối tượng còn lại khai nhận: Phạm Tuấn A trước khi chơi bài có 260.000đ, bỏ cả xuống chiếu để đánh bạc; Phạm Hữu H trước khi chơi bài có 280.000đ, bỏ cả xuống chiếu để đánh bạc; Phạm Hữu D trước khi chơi bài có 140.000đ, bỏ cả xuống chiếu để đánh bạc. Khi bị bắt B và các đối tượng chưa xác định được thắng, thua.
Tại Bản kết luận giám định số 3323/KLGĐ - PC09 ngày 02/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 14 (Mười bốn) tờ tiền Polymer Việt Nam gửi giám định là tiền thật.
Hình thức đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm như sau: Dùng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây, rồi chia lần lượt cho cả 4 người chơi, mỗi người 09 lá bài, riêng người chia bài thì được chia 10 lá bài. Sau khi chia bài xong người chia úp số bài còn lại xuống giữa chiếu, người chia bài được quyền đánh trước 01 cây, người tiếp theo bên cạnh theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ do người chơi quy định sẽ ăn cây bài trước mình để ghép thành 01 phỏm (được tạo thành khi có 03 hoặc 04 cây giống nhau, hoặc 03 cây trở lên cùng chất liền kề nhau). Nếu cây bài người trước đánh không ghép thành 01 phỏm thì người tiếp theo bốc 01 cây bài trên cùng của phần bài đang úp dưới chiếu và đánh xuống chiếu 01 cây bài. Thứ tự lần lượt như vậy cho đến khi có người ù, hoặc mỗi người chơi đánh hết 04 lượt. Người ù là khi có 09 lá bài tạo thành phỏm, khi có người ù thì ván bài kết thúc, 03 người còn lại phải đưa cho người ù số tiền 50.000đ. Nếu không có người ù thì 04 người chơi hạ phỏm, tính điểm (Cách tính điểm cụ thể như sau: cây A = 1 điểm; cây J = 11 điểm; cây Q = 12 điểm; cây K = 13 điểm...) cộng dồn điểm của số bài ráp thành tổng điểm của người chơi, người nào thấp điểm nhất thì về nhất và thắng được số tiền 10.000đ, 20.000đ, 30.000đ tương ứng của người nhì, ba, tư. Người nào không có phỏm gọi là móm và mất 40.000đ cho người về nhất, cả 04 người đều móm thì người nào hạ bài trước người đó về nhất. Người ù hoặc về nhất được quyền chia ván bài mới và đánh trước, các ván bài tiếp theo chơi tương tự.
Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ và tang vật thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Số tiền 800.000đ là tiền bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước; 01 chiếu nhựa và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây là công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các đối tượng: Phạm Tuấn A, Phạm Hữu D, Phạm Hữu H cùng tham gia đánh bạc ăn tiền với bị cáo Phạm Hữu B, tổng số tiền đánh bạc là 800.000đ. Trước đó Tuấn A, D và H chưa có tiền án về tội Đánh bạc; tiền sự về hành vi Đánh bạc; do vậy chưa có cơ sở truy cứu TNHS nên Cơ quan CSĐT công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi nói trên đối với Phạm Tuấn A, Phạm Hữu D, Phạm Hữu H bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ.
Tại bản cáo trạng số 81/CTr - VKSQX ngày 25/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương đã truy tố Phạm Hữu B về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Quảng Xương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 của BLHS; xử phạt bị cáo Phạm Hữu B từ 03 đến 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Hữu B có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phượng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Hữu B.
Về vật chứng: Đề nghị HĐXX: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài bài tú lơ khơ 52 cây; 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng là công cụ phạm tội; Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 800.000đ là số tiền dùng để đánh bạc thu tại chiếu bạc.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Xác định: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/10/2021, tại nhà Phạm Hữu B ở tổ dân phố Tân Đoài, thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Xương đã kiểm tra, phát hiện Phạm Hữu B cùng Phạm Tuấn A, Phạm Hữu D và Phạm Hữu H đang có hành vi sát phạt nhau có tính chất được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm. Thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền đánh bạc là 800.000đ; 01 chiếc chiếu nhựa và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây. Phạm Hữu B đang có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc nên mặc dù số tiền đánh bạc lần này dưới 5 triệu đồng; B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Như vậy đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Hữu B đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Đánh bạc”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội tại Đại đội 25, trung đoàn 1, sư đoàn 324, Quân khu 4; gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.
Đối với các đối tượng: Phạm Tuấn A, Phạm Hữu D, Phạm Hữu H cùng tham gia đánh bạc ăn tiền với bị cáo Phạm Hữu B, tổng số tiền đánh bạc là 800.000đ. Trước đó Tuấn A, D và H chưa có tiền án về tội Đánh bạc; tiền sự về hành vi Đánh bạc; do vậy chưa có cơ sở truy cứu TNHS nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi nói trên đối với Phạm Tuấn A, Phạm Hữu D và Phạm Hữu H bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Hữu B gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phượng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây và 01 chiếc chiếu nhựa là công cụ phạm tội.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000đ là tiền Phạm Hữu B và các đối tượng dùng để đánh bạc thu trên chiếu bạc.
Về án phí: Bị cáo Phạm Hữu B phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu B phạm tội: “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Hữu B 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Hữu B.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây và 01 chiếc chiếu nhựa.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 800.000đ là tiền Phạm Hữu B và các đối tượng dùng để đánh bạc thu trên chiếu bạc.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2021 và Biên lai tiền số AA/2021/0004961 ngày 29/11/2021).
Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I Danh mục án phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Hữu B phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND H Quảng Xương; - THADS huyện Quảng Xương; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Thị Thu Thủy |