vanban.org

Bản án 98/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/06/2021. Không phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 98/2021/HS-ST
Ngày 27 - 09 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Minh Quân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hữu Hưởng và ông Lò Đức Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 09 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2021 đối với bị cáo:

Đặng Văn T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 09/10/1989. Nơi sinh tại huyện X, tỉnh Sơn La.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tiểu khu a, xã b, huyện X, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông: Vũ Quang H sinh (đã chết) và bà Đặng Thị T sinh năm 1959. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền sự: Không

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án (tại bản án số 42/2016/HSST ngày 28 /01/2016 Tòa án nhân dân thành phố Sơn la xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)

Về nhân thân: Ngày 13/02/2009 bị cáo Đặng Văn T bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội cố ý hủy hoại tài sản theo khoản 1 điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/06/2020, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Thương H, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1997, địa chỉ: Tiểu khu 21, thị trấn A, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

2. Đặng Thị T, sinh ngày 28 tháng 5 năm 1959, địa chỉ Tiểu khu a, xã b, huyện X , tỉnh Sơn La. Vắng mặt. (Người đại diện theo ủy quyền chị Đặng Thị D, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1986, địa chỉ: Bản t, xã m, huyện X, tỉnh Sơn La). Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 30 phút ngày 30/6/2021 tổ công tác Công an thị trấn A, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ kiểm tra cơ sở lưu trú tại nhà trọ thuộc tiểu khu 20, thị trấn A, huyện Mai Sơn phát hiện Đặng Văn T đang ở cửa nhà trọ . Tổ công tác yêu cầu kiểm tra giấy tờ tùy thân đối với Đặng Văn T. T khai đang để trên phòng trọ và đưa tổ công tác đi lên phòng của T để kiểm tra. Quá trình kiểm tra T có biểu hiện nghi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công yêu cầu có ma túy thì tự giác giao nộp, Đặng Văn T lấy 01 gói ma túy cất giấu bên dưới khăn tắm để trên bàn trong phòng trọ. Tiến hành kiểm tra phát hiện 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 01 gói nilon màu đen bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine. Tổ công tác yêu cầu còn cất giấu ma túy ở vị trí khác thì giao nộp, T còn khai nhận tại thời điểm gặp tổ công tác,T đã thả 01 gói Heroine đang cầm trong tay trái xuống hành lang đường Quốc lộ 6 trước cửa nhà trọ. Tổ công tác cùng T đi đến vị trí T khai nhận đã phát hiện 01 gói nilon màu đen bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine. Đặng Văn T khai 02 gói đó là Heroine của T mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực nhà máy đường thuộc tiểu khu 1, thị trấn A, huyện Mai Sơn vào ngày 29/6/2021 với giá 80.000VNĐ, mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Văn T và thu giữ vật chứng nêu trên.

Vật chứng thu giữ của Đặng Văn T:

- 02 gói nilon màu đen chứa chất bột nén màu trắng;

- 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A02s kèm theo 02 sim điện thoại di động;

- 01 xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITER, biển kiểm soát 29P1 – 371.35, số máy: 55P1389012, số khung: 5P10EY388999;

- 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Đặng Văn T;

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lưu Đức H;

- 01 khăn tắm màu cam.

Ngày 30/6/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn la tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Đặng Văn T, lấy mẫu trưng cầu giám định, kết quả:

Cân chất bột màu trắng nghi Heroine trong 02 túy ni lon thu giữ khi bắt bị cáo Đăng Văn T có khối lượng như sau.

Chất bột màu trắng nghi Heroine được gói trong 01 túy nilon màu xanh và 01 gói ni lon mau đen có khối lượng 0,06gam, trích rút toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu M1.

Chất bột màu trắng nghi Heroine 01 gói ni lon mau đen có khối lượng 0,09gam, trích rút toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu M2.

Ngày 30/6/2021 Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La ra Quyết định số 101 trưng cầu giám định khối lượng, loại ma túy đối với vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ được khi bắt quả tang Đặng Văn T. Đối với các mẫu ký hiệu M1, M2 có phải là ma túy không?Loại ma túy gì?Tổng khối lượng vật chứng thu giữ? Khối lượng của mẫu gửi giám định?

Tại bản kết luận giám định số:1225 ngày 01/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

"Các mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định lần lượt là M1=0,06 gam, M2=0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,15 gam, loại Heroine."

Tại phiên toà, bị cáo Đặng Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số: 77/CT-VKSMS ngày 15/09/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 15 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 gói nilon màu xanh, 02 gói nilon màu đen gói ma túy ban đầu, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu được chứa trong 01 phong bì thư do công an huyện Mai Sơn phát hành được niên phong theo quy định.

Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Lê Thương H 01 khăn tắm màu cam.

Trả lại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị T 01 xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITER, biển kiểm soát 29P1 – 371.35, số máy: 55P1389012, số khung: 5P10EY388999 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lưu Đức Hiệu.

Trả lại cho bị cáo Đặng Văn T 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A02s kèm theo 02 sim điệu thoại di động, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Đặng Văn T.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tội danh: Tại phiên toà bị cáo Đặng Văn T thừa nhận: Ngày 30/06/2021, khi đi từ nhà ở đến thị trấn A chơi, T đã gặp và mua 80.000VNĐ được 01 gói ma túy khối lượng 0,15 gam. Sau khi đến thuê phong tại nhà nghỉ T bị tổ công tác Công an thị trấn A, huyện Mai Sơn phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 0,15 gam Heroine.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám địnhvà các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đặng Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về hình phạt: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi tàng trữ trái chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào cũng là phạm tội. Do bị cáo nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng dần cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bị cáo có ông ngoại là Đặng Đình H là người có công với cách mạng và đươc nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chông pháp hạng nhất. Nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 tiền án (tại bản án số 42/2016/HSST ngày 28/01/2016 Tòa án nhân dân thành phố Sơn la xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999). Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại phạm tội với lỗi cố ý. Đây là tình tiết tái phạm tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra, bị cáo không có tài sản gì có giá trị. Xét thấy bị cáo không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo

[6] Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu và các manh nilon gói ma túy ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì thư do công an huyện Mai Sơn phát hành. Đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 khăn tắm màu cam (đã qua sử dụng) khi bắt bị cáo bị cáo cơ quan điêu tra đã thu giữ. Trong quá trình điêu tra đã xác định được chiếc khăn tắm mầu cam là (của nhà nghỉ ) do chị H là chủ nhà nghỉ và chị Hoài xin lại chiếc khăn. Nên cần trả lại chiếc khăn tắm màu cam cho chị H.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A02s màu đen đã qua sử dụng, kèm theo 02 sim điệu thoại, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Đặng Văn T, xác định bị cáo không sử dụng liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITE màu xanh trắng biển kiểm soát 29P1 – 371.35, số máy: 55P1389012, số khung: 5P10EY388999; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lưu Đức Hiệu, Trong quá trình điều tra xác định đây là tài sản chung của gia đình bị cáo, Tiền mua xe trên là tiền do bà Đặng Thị Thoi ( mẹ đẻ bị cáo) đưa tiền cho bị cáo đi mua xe .Việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy bà Thoi không biết , nay bà Thoi có đơn xin lai chiếc xe trên. Nên trả lại xe cho bà Thoi.

[7] Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc ma túy Đặng Văn T khai mua được của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực tiểu khu 1, thị trấn A, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Việc mua bán, trao đổi không có ai cùng tham gia, chứng kiến. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh mở rộng vụ án.

[8] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/06/2021.

Không phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu và các mảnh nilon gói ma túy ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì thư do công an huyện Mai Sơn phát hành được niêm phong theo quy định.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Văn T 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A02s màu đen đã qua sử dụng, kèm theo 02 sim điệu thoại; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Đặng Văn T.

- Trả lại cho chị Lê Thương Hoài. 01 chiếc khăn tắm màu cam (đã qua sử dụng)

Trả lại cho bà Đặng Thị Thoi 01 xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITER màu xanh trắng biển kiểm soát 29P1 – 371.35, số máy: 55P1389012, số khung: 5P10EY388999; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lưu Đức Hiệu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/09/2021 giữa Công an huyện Mai sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo, người đại diên người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoăc niêm yết bản án.

Cỡ chữ