- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Quang H cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Tạ Quang H, Tạ Quang T và Dương Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2021/HS-PT Ngày 10 tháng 12 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Th nh h n i n ét ử húc thẩm m có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng T5 và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Thư ký hiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hoàng - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguy t - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ l số: 134/2021/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 đối với vụ án Tạ Quang H cùng đ ng phạm, do có háng cáo của các bị cáo Tạ Quang H, Tạ Quang T và Dương Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2021/HSST ngày 21 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huy n Y.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Tạ Quang H, sinh ngày 22/10/1976 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng hộ hẩu thường trú và chỗ ở: Thôn G, xã T1, huy n Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghi p: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Tạ Quang T2 và bà Nguyễn Thị H; vợ là Nguyễn Thị H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/5/2021 đến ngày 15/5/2021 được tại ngoại (có mặt).
2. Tạ Quang T, sinh ngày 28/02/1975 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng hộ hẩu thường trú và chỗ ở: Thôn G, xã T1, huy n Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; Đảng, Đoàn thể: Là đảng viên Đảng cộng sản Vi t Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; con ông Tạ Quang D và bà Dương Thị T3; vợ là Nguyễn Thị H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/5/2021 đến ngày 15/5/2021 được tại ngoại (có mặt).
8. Dương Văn N, sinh ngày 28/10/1983 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng hộ hẩu thường trú và chỗ ở: Thôn G, xã T1, huy n Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Dương Văn X và bà Đàm Thị T4; vợ là Nguyễn Thị Thu N1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/11/2004, Công an huy n V xử phạt 200.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (bị cáo đã nộp tiền phạt và được coi là chưa bị xử lý hành chính); bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/5/2021 đến ngày 15/5/2021 được tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn N: Ông Lê Văn D1, Trợ giúp viên pháp lý, T tâm Trợ giúp pháp l Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người tham gia t t ng khác kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng nghị nên T a án kh ng tri u t p.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 10/5/2021, Nguyễn Thủy C đang ở nhà (nhà trọ thuê của gia đình anh Nguyễn Kim T5, sinh năm 1971 ở thôn G, xã T1, huy n Y, tỉnh Vĩnh Phúc) thì có Dương Văn N, Hoàng Đức A, Dương Văn G, Tạ Quang H, Nguyễn Kim T đến chơi, uống nước tại phòng hách. Thấy có đông người, H rủ N, A, G và Kim T đánh bài ăn tiền thì tất cả đều đ ng . Cả nhóm xin phép cho đánh bạc tại nhà thì Nguyễn Thủy C đ ng , đ ng thời Nguyễn Thủy C lấy 01 bộ bài tú lơ hơ có sẵn trong tủ để lên mặt bàn uống nước. G cầm bộ bài r i cùng H, N, A, Kim T ng i xuống chiếc chiếu trải dưới nền nhà để đánh bạc ăn tiền, dưới hình thức đánh liêng. Cả nhóm chơi được hoảng 10 phút thì có Nguyễn Văn T6, Tạ Quang T và Nguyễn Văn H2 đến và tham gia chơi cùng. Khi 08 người đang đánh bạc thì Nguyễn Thủy C đứng ra thu tiền “h ”, mỗi người phải 20.000đ, tổng số tiền thu được là 160.000đ để Nguyễn Thủy C mua thuốc lá, nước uống cho cả nhóm và trả tiền đi n. Khoảng 30 phút sau, có Nguyễn Kim T7 cũng đến ng i sau Kim T xem đánh bạc. Một lúc sau, Kim T cho rằng T7 đến làm Kim T bị thua nên đứng dậy hông chơi nữa thì T7 thay chỗ Kim T đánh bạc với mọi người. Do T7 không có tiền nên Kim T để lại hoảng 300.000đ trên chiếu cho T7 chơi. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, hi cả nhóm đang đánh bạc thì bị Công an huy n Y bắt quả tang.
Tang vật thu giữ g m: Số tiền 14.795.000đ (trong đó có 14.680.000đ là tiền các bị cáo dùng vào vi c đánh bạc và 115.000đ là tiền thu của Nguyễn Thủy C); 01 bộ bài tú lơ hơ 52 quân; 01 chiếu mành tre màu vàng; 05 mảnh thảm xốp màu vàng - trắng; 02 ví giả da, 09 đi n thoại di động và 02 xe mô tô các loại.
Quá trình điều tra xác định: Khi tham gia đánh bạc H có hoảng 2.860.000đ, Đức A có hoảng 1.000.000đ, Kim T có hoảng 1.500.000đ, G có hoảng 2.700.000đ, N có hoảng 1.100.000đ, T6 có hoảng 1.800.000đ, Quang T có hoảng 2.730.000đ, H2 có hoảng 1.000.000đ, T7 được Kim T để lại hoảng 300.000đ. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào vi c đánh bạc là 14.680.000đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2021/HSST ngày 21/9/2021, Toà án nhân dân huy n Y đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Tạ Quang H, Tạ Quang T và Dương Văn N phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ hoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Quang H 01 năm 03 tháng tù. Căn cứ hoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; hoản 1, hoản 2, hoản 5 Điều 65; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Quang T 01 năm tù cho hưởng án treo. Căn cứ hoản 1 Điều 321; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn N 09 tháng tù. Ngoài ra còn xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn H2 01 năm tù; Dương Văn G 01 năm tù cho hưởng án treo; bị cáo Nguyễn Văn T6, Nguyễn Kim T, Nguyễn Thủy C mỗi bị cáo 10 tháng tù cho hưởng án treo; bị cáo Hoàng Đức A 08 tháng cải tạo hông giam giữ, bị cáo Nguyễn Kim T7 07 tháng cải tạo hông giam giữ; xử l vật chứng, tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/10/2021, các bị cáo Tạ Quang H và Dương Văn N có đơn háng cáo xin hưởng án treo. Ngày 04/10/2021, bị cáo Tạ Quang T có đơn háng cáo xin được phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Tạ Quang H, Tạ Quang T và Dương Văn N vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo và hai nhận như đã hai tại Cơ quan điều tra. Bị cáo H xin hưởng án treo với l do: Bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng bằng hen của UBND tỉnh Vĩnh Phúc; hi n hoàn cảnh gia đình rất hó hăn (mẹ già, vợ hay ốm yếu, 01 con lớn đi nghĩa vụ quân sự, con trai nhỏ đang theo học lớp 8, bị cáo là lao động chính trong gia đình). Bị cáo N xin hưởng án treo với l do: Gia đình bị cáo thuộc hộ ngh o, inh tế hó hăn tại địa phương; năm 2009 bị cáo bị tai nạn đã được B nh vi n xác nhận bị b nh động kinh, chân tay run, hông làm được vi c nặng, gia đình đang làm h sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác nhận là người huyết tật; hi n tại sức hỏe của bị cáo rất yếu, đi lại cũng hó hăn. Bị cáo T xin được phạt tiền với l do: Bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang; bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội và trước hi phạm tội là đảng viên Đảng cộng sản Vi t Nam; Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét và áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm x hoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đại di n Vi n iểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm b hoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e hoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận nội dung đơn háng cáo của bị cáo Tạ Quang H và Dương Văn N, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho các bị cáo H, N hưởng án treo; không chấp nhận nội dung đơn háng cáo của bị cáo Tạ Quang T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về áp dụng pháp luật và hình phạt; các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị nên hông đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét.
Người bào chữa của bị cáo Dương Văn N có quan điểm: Bị cáo N có hành vi đánh bạc nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo hoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo là có phần nghiêm hắc, vì bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, gia đình có hoàn cảnh hó hăn và thuộc hộ ngh o của địa phương, hi n bị cáo bị b nh động inh hông đi lại bình thường được. Xin Hội đ ng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để phấn đấu sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn háng cáo của các bị cáo Tạ Quang H, Tạ Quang T và Dương Văn N làm trong thời hạn luật định, đơn hợp l nên được Hội đ ng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo và người tham gia tố tụng hác hông có iến hoặc hiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận công hai tại phiên toà, các bị cáo Tạ Quang H, Tạ Quang T và Dương Văn N đã hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời hai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời hai của các bị cáo hác trong vụ án; phù hợp với tang vật đã thu giữ, các tài li u chứng cứ hác được thu thập hách quan đúng pháp luật có trong h sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở ết luận:
Trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 21 giờ 45 phút ngày 10/5/2021, tại nhà trọ của Nguyễn Thủy C (Nguyễn Thủy C thuê trọ của anh Nguyễn Kim T5, sinh năm 1971 ở thôn G, xã T1, huy n Y, tỉnh Vĩnh Phúc), các bị cáo Tạ Quang H, Nguyễn Văn H2, Dương Văn G, Tạ Quang T, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Kim T, Dương Văn N, Hoàng Đức A, Nguyễn Kim T7 đã có hành vi đánh bạc trái phép ăn tiền dưới hình thức đánh liêng. Tổng số tiền các bị cáo đã và sẽ sử dụng vào vi c đánh bạc là 14.680.000đ. Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Tạ Quang H, Tạ Quang T và Dương Văn N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với yêu cầu háng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Tạ Quang H và Dương Văn N; đề nghị phạt tiền của bị cáo Tạ Quang T, Hội đ ng xét xử xét thấy: H2nh vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo v , gây mất trật tự trị an trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm hác trong xã hội.
Trong vụ án này, bị cáo H là người hởi xướng vi c thực hi n tội phạm, còn các bị cáo T và N đều trực tiếp tham gia thực hi n tội phạm tích cực. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự và nhân thân của người phạm tội để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là có căn cứ. Tuy nhiên, vụ án thuộc đ ng phạm giản đơn, tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, số tiền các bị cáo sử dụng vào vi c đánh bạc hông lớn. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo đã gây ra. Cụ thể:
- Đối với bị cáo H, trước hi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà hông bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Xét thấy, nếu hông bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì hông gây nguy hiểm cho xã hội, hông ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại di n Vi n iểm sát tại phiên tòa để sửa bản án sơ thẩm và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Đây là cơ hội để bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm. Như vậy, yêu cầu háng cáo xin hưởng án treo của bị cáo H được Hội đ ng xét xử chấp nhận.
- Đối với bị cáo T, trước hi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có bố đẻ là ông Tạ Quang D là người đã có thành tích phục vụ trong quân đội Nhân dân Vi t Nam được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba; bản thân bị cáo cũng có thời gian phục vụ trong quân đôị và trước hi phạm tội là đảng viên Đảng cộng sản Vi t Nam. Đây chỉ là các tình tiết giảm nhẹ hác theo quy định tại hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng theo đúng quy định của pháp luật, đ ng thời đã xem xét và quyết định cho bị cáo được hưởng án treo là đã có phần chiếu cố. Như vậy, yêu cầu háng cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm x hoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xin được phạt tiền của bị cáo T không được Hội đ ng xét xử chấp nhận.
- Đối với bị cáo N, năm 2004 đã bị xử l hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mặc dù hành vi đó tính đến ngày phạm tội đã hết thời hi u và được coi là chưa bị xử l hành chính nhưng vẫn thuộc người có nhân thân xấu. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên bị cáo bị đưa ra xét xử, số tiền bị cáo sử dụng vào vi c đánh bạc hông lớn, hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ ngh o ở địa phương, hi n tại sức hỏe của bị cáo hông được tốt, tại phiên tòa phúc thẩm hông đứng và đi lại bình thường được. Xét thấy, nếu hông bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì hông gây nguy hiểm cho xã hội, hông ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại di n Vi n iểm sát tại phiên tòa để sửa bản án sơ thẩm và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Đây là cơ hội để bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm. Như vậy, yêu cầu háng cáo xin hưởng án treo của bị cáo N được Hội đ ng xét xử chấp nhận.
Các quyết định hác của Bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị đã có hi u lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Về án phí: Yêu cầu háng cáo của các bị cáo H và N được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Yêu cầu háng cáo của bị cáo T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 355; Điều 356; điểm e hoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận nội dung đơn háng cáo của các bị cáo Tạ Quang H và Dương Văn N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2021/HSST ngày 21/9/2021 của Toà án nhân dân huy n Y về phần áp dụng pháp luật và hình phạt đối với các bị cáo Tạ Quang H và Dương Văn N; không chấp nhận nội dung đơn háng cáo của bị cáo Tạ Quang T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2021/HSST ngày 21/9/2021 của Toà án nhân dân huy n Y về phần áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo Tạ Quang T.
Tuyên bố các bị cáo Tạ Quang H, Tạ Quang T và Dương Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
1. Căn cứ hoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 58; hoản 1, hoản 2, hoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Tạ Quang H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, ể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Tạ Quang H cho Uỷ ban nhân dân xã T1, huy n Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Căn cứ hoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 58; hoản 1, hoản 2, hoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Tạ Quang T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm, ể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Tạ Quang T cho Uỷ ban nhân dân xã Tễ Lỗ, huy n Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
3. Căn cứ hoản 1 Điều 321; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 58; hoản 1, hoản 2, hoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Dương Văn N 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, ể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Dương Văn N cho Uỷ ban nhân dân xã T1, huy n Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Lu t Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo c ý vi phạm nghĩa v theo Lu t Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì T a án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
4. Bị cáo Tạ Quang T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định hác của Bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hi u lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vi n iểm sát tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Vi n iểm sát huy n Y; - Tòa án huy n Y; - Công an huy n Y; - Chi cục THADS huy n Y; - Trại tạm giam Công an Vĩnh Phúc; - UBND xã Tề Lỗ, huy n Y; - Bị cáo có háng cáo; - Lưu: H sơ, Toà Hình sự, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đỗ Thế Bình |