- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - Võ Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2021/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 202 của Tòa án nhân dân th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về phần biện pháp chấp h nh hình phạt đối với bị cáo Võ Văn T:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2021/HS-PT Ngày: 18-10-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thị Sang
Ông Nguyễn Huỳnh Đức
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 85/2021/TLPT-HS ngày 11 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Võ Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 9 202 HS-ST ng y 02 tháng 4 năm 202 của Tòa án nhân dân th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Văn T sinh năm 990 tại tỉnh Q; nơi đăng ký thường trú: thôn 7A, xã T, huyện T, tỉnh Q; nơi đăng ký tạm trú: 5 82 tổ 0 khu phố B , phường T, th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12 2; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H v b Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ng y 2 tháng 3 năm 2007, bị Công an huyện Tiên Phước xử phạt h nh chính về h nh vi “Trộm cắp t i sản” theo Quyết định số 04 ng y 2 tháng 3 năm 2007. Bị cáo tại ngoại. Có mặt
- Người b o chữa cho bị cáo: ông Dương Quang Minh – Luật sư của Công ty Luật TNHH Ho ng Thanh, thuộc Đo n Luật sư Th nh phố Hồ Chí Minh. Có mặt
Ngo i ra, trong vụ án còn 03 người đại diện hợp pháp của bị hại; 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng FC do Sở Giao thông Vận tải Th nh phố Hồ Chí Minh cấp ng y 27 tháng 0 năm 20 7. Khoảng 20 giờ ng y 0 tháng 3 năm 2020, ông Trần Tuấn A điều khiển xe mô tô biển số 6 C – 057.40 lưu thông theo hướng từ đường N về đường Thủ Khoa Huân trên đường D thuộc khu sản xuất Bình Chuẩn. Khi đến đoạn đường khu phố Bình Phú, phường Bình Chuẩn, th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì đụng v o phía sau góc bên trái của xe ô tô đầu kéo biển số 5 D – 057.85 kéo rơmoóc biển số 51R – 175.35 do Võ Văn T điều khiển đang đỗ sát lề bên phải cùng chiều với hướng xe mô tô biển số 6 C – 057.40 nhưng không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết. Tai nạn xảy ra, hậu quả ông Trần Tuấn A tử vong sau cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương.
Sau tai nạn giao thông, hiện trường để lại như sau:
Hiện trường l đoạn đường D rộng ,80m (khu sản xuất Bình Chuẩn, thuộc khu phố Bình Phú, phường Bình Chuẩn, th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương) được trải nhựa phẳng v thẳng. Đoạn từ đường N về đường Thủ Khoa Huân không có các vạch kẻ sơn phân chia chiều đường, l n đường. Đoạn xảy ra tai nạn có gờ giảm tốc độ d i ,70m.
Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
( ) Xe ô tô đầu kéo biển số 5 D – 057.85 kéo rơmoóc biển số 5 R – 75.35 dừng đỗ sát mép phải không bật đèn cảnh báo, trục bánh trước bên phải v trục bánh sau cùng bên phải đầu kéo cách mép phải 0,3m. Trục sau cùng bên phải rơ moóc cách mép phải 0,3m v cách trụ điện số 04 l 7,40m. Đầu xe hướng về đường Thủ Khoa Huân.
(2) Xe mô tô biển số 6 C – 057.40 nằm ngã nghiêng bên trái ngay dưới đuôi xe ô tô, trục bánh trước xe cách mép phải 3,20m v cách trục sau bên trái rơmoóc xe ô tô l 0,90m, trục sau xe mô tô cách mép phải 2, 0m.
(3) Vết máu kích thước ( , x ,0)m để lại ngay sau xe mô tô, cách trục trước xe mô tô l ,60m v cách mép phải 3,00m.
Trên lề phải đường trước đầu xe ô tô đầu kéo l cổng Công ty dệt Sarah.
Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 72A GĐPY ng y 02 tháng 3 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương đối với tử thi Trần Tuấn A xác định:
. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngo i.
- Vỡ xương hộp sọ, vỡ xương gò má, xương h m trên, dưới phải.
- Dập rách não trán – thái dương phải, thái dương trái.
- Vỡ phức tạp xương s n sọ.
- Tụ máu dưới m ng cứng hai bán cầu đại não, tiểu não.
2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
Kết luận giám định nồng độ cồn số 83 HPL-PC09 ng y 9 tháng 5 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương đối với mẫu máu thu được từ tử thi Trần Tuấn A thể hiện: có th nh phần Ethanol (cồn). Nồng độ: 204,58mg/100ml.
Kết luận giám định số 35 GĐCH-PC09 ng y 23 tháng 3 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương:
- Dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 6 C -057.40 v sơmi rơ moóc biển số 5 R- 75.35 do xe ô tô biển số 5 D-057.85 kéo phía sau là:
+ Dấu vết hằn vỡ ốp nhựa đèn rẽ trái phía trước, trượt xước bám dính chất m u v ng (dạng sơn) ở mặt trước tay phanh v hộp dầu phanh bên phải xe mô tô, có chiều từ trước về sau từ trái qua phải, phù hợp với dấu vết trượt xước sơn m u v ng ở mặt sau vè chắn bùn sau bên trái sơmi rơ moóc, có chiều từ sau về trước.
+ Dấu vết trượt xước bám dính m ng m u đen (dạng cao su) ở mặt trước ngo i phuộc trước bên phải, đầu dưới bửng phải, mặt ngo i lốc máy phải, mặt trước chân phanh xe mô tô, có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước ở mặt lăn lốp ngo i bên trái, trục sau sơmi rơ moóc, có chiều từ mặt lăn vào vành.
+ Dấu vết trượt xước ở cạnh phải vè bánh xe trước, bửng phải xe mô tô, có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước ở mặt sau đầu thanh cản sau sơmi rơ moóc, có chiều từ sau về trước.
- Cơ chế hình th nh dấu vết giữa hai phương tiện l : xe mô tô va chạm với xe ô tô đầu kéo rơmoóc theo hướng cùng chiều, từ sau về trước tạo ra các dấu vết trên hai phương tiện.
- Căn cứ v o vị trí, chiều hướng các dấu vết ở hiện trường vụ tai nạn giao thông thì vị trí va chạm giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường l khu vực phía sau bánh xe bên trái trục sơmi rơ moóc.
Vật chứng thu giữ: xe mô tô biển số 6 C – 057.40; xe ô tô đầu kéo biển số 5 D – 057.85 kéo rơmoóc biển số 5 R – 175.35.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2021/HS-ST ng y 02 tháng 4 năm 202 của Tòa án nhân dân th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:
Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: áp dụng điểm a khoản Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 (sửa đổi, bổ sung năm 20 7), xử phạt bị cáo Võ Văn T 0 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ng y bắt để thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí v quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ng y 08 tháng 4 năm 202 , bị cáo Võ Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: bị cáo thừa nhận h nh vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nhận định, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có 0 phần lỗi, bị cáo l lao động chính trong gia đình, có địa chỉ cư trú rõ r ng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội m cho bị cáo tự cải tạo cũng đủ răn đe, giáo dục v thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng chuyển hình phạt tù sang hình phạt cho hưởng án treo.
Người b o chữa cho bị cáo trình b y: bản án sơ thẩm nhận định bị cáo có nhân thân xấu l không đúng vì bị cáo đã chấp h nh xong việc xử lý vi phạm hành chính. Bản án sơ thẩm chưa nêu rõ lỗi của bị hại l nồng độ cồn của bị hại vượt rất cao so với mức quy định. Ngay phía sau nơi bị cáo đậu xe l gờ giảm tốc d i ,7m, bị cáo căn cứ v o đó mới không đặt các biển báo cảnh cáo. Bị cáo xác định kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại các tình tiết nêu trên để l m căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo v cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo thống nhất với ý kiến của người b o chữa không tranh luận gì thêm.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt v cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án v đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ ] Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ v o lời khai của bị cáo và các t i liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: khoảng 20 giờ ng y 0 tháng 3 năm 2020, tại đoạn đường D thuộc khu phố Bình Phú, phường Bình Chuẩn, th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, bị cáo Võ Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 5 D – 057.85 kéo rơmoóc biển số 5 R – 75.35 đỗ xe trục bánh xe bên phải cách lề 0,3 mét nhưng không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước v phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết l nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm ông Trần Tuấn A tử vong. H nh vi của bị cáo Võ Văn T đã vi phạm điểm a, d khoản 3 Điều 8 v khoản Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 v phạm v o tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Vì vậy, Tòa án nhân dân th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản Điều 260 của Bộ luật Hình sự l ho n to n đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Võ Văn T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo, do bị cáo có ho n cảnh gia đình khó khăn, l lao động chính trong gia đình, đang trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ gi . Xét thấy, mức hình phạt 0 (một) năm 03 (ba) tháng m Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo l phù hợp nên không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Đối với yêu cầu xin được hưởng án treo, trong quá trình điều tra v tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển phương tiện trong tình trạng có nồng độ cồn vượt quá mức quy định gấp 04 lần (nồng độ: 204,58mg 00ml), bị cáo đã thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho phía gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ r ng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt chấp h nh hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục v không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an to n xã hội. Bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự v Nghị quyết số 02 20 8 NQ-HĐTP ng y 5 tháng 5 năm 20 8 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo.
Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm chuyển hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo l phù hợp.
Ý kiến trình b y của người b o chữa cho bị cáo xin được hưởng án treo l phù hợp nên được chấp nhận.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản Điều 355, điểm e khoản Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 20 5,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2021/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 202 của Tòa án nhân dân th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương về phần biện pháp chấp h nh hình phạt đối với bị cáo Võ Văn T:
Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: áp dụng điểm a khoản Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn T 0 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách l 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ng y tuyên án phúc thẩm (ng y 3 tháng 0 năm 202 ).
Giao bị cáo về y ban nhân dân phường Thuận Giao, th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản Điều 92 Luật thi h nh án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp h nh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Võ Văn T không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (2); - Viện Kiểm sát nhân dân th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; - Bị cáo (1), - Người tham gia tố tụng (1); - Chi cục Thi h nh án dân sự th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu VP (3), hồ sơ vụ án, NMT, 5. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Văn Lộc |