vanban.org

Bản án 98/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào Điều 50; khoản 1 Điều 55; điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2 15, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần V T;

Tuyên bố bị cáo Trần V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần V T 01 (một năm 6 (sáu tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 2 (hai năm 6 (sáu tháng tù về tội “Ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào Điều 50; khoản 1 Điều 55; điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2 15, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần V T;
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2020/HS-ST
Ngày 27/11/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân

2. Bà Nguyễn Lê Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Doãn Đại - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2020 tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần V T (tên gọi khác: Ly); sinh ngày 17/7/1985; tại Ninh Thuận; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Khu phố x, phường xx, thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở: Phòng x, phòng cho thuê xxx, số x Ông Ích Khiêm, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T và bà Huỳnh Thị H; vợ là bà Nguyễn Thị L; bị cáo có một người con sinh năm 2010; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 24/6/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 20/HSPT. Ngày 24/9/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 39/HSPT và tổng hợp hình phạt của hai bản án là 33 tháng tù giam; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lai Ng A, sinh năm 1993; nơi cư trú: x lô x chung cư Ngô Gia Tự, Phường x, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn T Ng, sinh năm 1982; nơi cư trú: xx Lý Thường Kiệt, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Đ P, sinh năm 1977; nơi cư trú: xx Nguyễn Cảnh Chân, phường xx, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn T T L, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp xx, xã xx, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn T M H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn xx, xã xx, huyện Yên Dũng, thành phố Bắc Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ 3 phút ngày 15 12 2 19, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Quận 11 phối hợp với Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an Phường 10 Quận 11, tiến hành kiểm tra Phòng cho thuê Xxx, tại địa chỉ x Ông Ích Khiêm, Phường x Quận 11. Qua kiểm tra tại Phòng 3 3 c đối tượng Trần T và đối tượng Lai Ng A đang thuê ở, Công an phát hiện và thu giữ một số ụng cụ sử ụng ma túy. Công an tiếp tục tiến hành khám x t khẩn cấp người, đồ vật tại Phòng 3 3 thì phát hiện đối tượng T đang cất giữ trong túi quần jean phía trước ên phải 1 g i nylon ch a tinh thể không màu nghi là ma túy đá và một số đồ vật khác có liên quan. Công an thu giữ vật ch ng và đưa các đối tượng về trụ sở Công an Phường 10, Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. (BL 24-25).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành trưng cầu giám định số chất tinh thể không màu nghi là ma túy đã thu giữ của đối tượng T. Tại bản Kết luận giám định số 5 KLGĐ- ngày 23 12 2 19 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8166g (không phẩy tám một sáu sám gam), loại Methamphetamine”. (BL 65).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, bị can Trần V T khai nhận: Vào khuya ngày 15/12/2019, bị can T cùng với đối tượng Lai Ng A (là bạn gái của bị can T) đang ở tại Phòng x, phòng cho thuê xxx, số x Ông Ích Khiêm, Phường x, Quận 11 thì có Công an Quận 11 vào kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an Quận 11 phát hiện c ụng cụ sử ụng ma túy để trong phòng. Công an tiến hành khám xét khẩn cấp và phát hiện trong túi quần trước bên phải của bị can T có 01 gói nylon ch a ma túy đá và một số đồ vật khác c liên quan nên đã thu giữ và đưa bị can về trụ sở Công an Phường 10, Quận 11 làm rõ. Bị can T cất giữ g i ma túy trong người để sử dụng.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, bị can T khai mua của người đàn ông tên Đen (không r lai lịch với giá 3 . đồng vào tối ngày 12/12/2019. Bị can T và đối tượng Đen quen biết nhau ngoài xã hội khoảng vài tháng trước khi bị bắt. Bị can T khai có một lần bị can T đưa đối tượng Đen về đến đầu hẻm trên đường Ấp Chiến Lược, quận Bình Tân. Bị can T có biết đối tượng Đen c án ma túy nên đã hỏi mua và liên lạc với đối tượng Đen qua số điện thoại 9 1684518, sau đ đối tượng Đen trực tiếp mang đến phòng cho thuê Xxx để giao ma túy cho bị can T.

Phòng 303 do bị can T thuê ở trước ngày bị bắt khoảng 01 tháng. Do quen biết với quản lý khách sạn nên bị can không cần để lại giấy ch ng minh nhân ân để thuê phòng. Việc bị can T cất giữ ma túy trong người thì đối tượng Lai Ng A hoàn toàn không biết. Bị can T khai có sử dụng ma túy cùng với đối tượng Ng A vào ngày 12/12/2019 tại Phòng 303 Phòng cho thuê Xxx. Đối tượng Đen c mang ma túy đến giao cho bị can T nhưng sau đ đi về. Số dụng cụ sử dụng ma túy và số ma túy là do đối tượng Đen mang đến. (BL 26-35; 173-174).

Đối tượng Lai Ng A khai nhận: Đối tượng Ng A quen biết và là bạn gái của bị can T được khoảng 01 tháng. Vào khuya ngày 15/12/2019, khi đối tượng Ng A cùng bị can T đang ở tại Phòng 303 thì bị Công an Quận 11 đến kiểm tra phòng và phát hiện trong túi quần trước bên phải của T có 01 gói nylon ch a chất tinh thể không màu nghi là ma túy nên đưa cả hai về trụ sở Công an Phường 10, Quận 11 làm việc. iệc bị can T cất giữ ma túy trong người thì đối tượng Ng A hoàn toàn không iết. Đối tượng Ng A khai đã sử dụng ma túy cùng với bị can T và một người bạn của bị can T tên là Đen tại phòng của bị can T vào ngày 12/12/2019. Đối tượng Ng A khai trước đ c sử dụng cùng với bị can T 01 lần vào ngày bao nhiêu thì không nhớ rõ, số lần đối tượng Ng A cùng bị can T sử dụng ma túy tại Phòng 303 là từ một đến hai lần. Số ma túy và dụng cụ sử dụng là do đối tượng Đen ( ạn của bị can T mang đến. (BL 35A-41).

Trong quá trình điều tra, sau khi thu thập lời khai của đối tượng Ng A thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã giải quyết cho đối tượng về nhà. Do có mâu thuẫn về lời khai giữa bị can T và đối tượng Ng A nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành triệu tập lại đối tượng Ng A để làm r nhưng đối tượng không đến cơ quan Công an để làm việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành xác minh tại địa chỉ x lô x chung cư Ngô Gia Tự, Phường x, Quận 10 thì được biết hiện đối tượng Ng A không có mặt tại nơi cư trú nên không thể làm r được mâu thuẫn giữa lời khai của bị can T và đối tượng Ng A về việc bị can T có hay không có hành vi ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với nhiều người và nhiều lần. (BL 70B).

Bà Nguyễn T M H là quản lý phòng cho thuê Xxx khai nhận: Vào ngày 15/12/2019, tại Phòng số 303, phòng cho thuê Xxx c Công an đến kiểm tra và có mời bà H lên ch ng kiến sự việc thì bà H nhìn thấy Công an kiểm tra trong túi quần phía trước bên phải của nam thanh niên có 01 gói nylon ch a chất tinh thể không màu nghi là ma túy. Bà H có ch ng kiến việc Công an đã đưa cả hai đối tượng đang ở tại Phòng số 303 gồm một người nam và một người nữ về trụ sở làm việc. Bà H biết người thanh niên đ tên là T (hay còn gọi là Ly) do T hay đến đây lưu trú, còn người phụ nữ thì bà không biết là ai. Bà H cho Thảo thuê Phòng 3 3 được khoảng 01 tháng. Thời điểm Công an kiểm tra thì trong phòng chỉ có Thảo và 1 người phụ nữ ở cùng. Do T thường xuyên đến thuê phòng nên bà H quen mặt và cho T thuê phòng mà không cần để lại giấy tờ tùy thân. Ngoài T và người phụ nữ ra thì bà H không nhớ r c người nào khác vào ở tại Phòng 303 hay không. (BL 42-43; 48-49; 168A-168B).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành cho bà Nguyễn T M H nhận dạng qua ảnh, bà H nhận dạng chính xác Trần V T chính là người đến thuê phòng 303 Phòng cho thuê Xxx. (BL 165-166)

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành xác minh đối tượng thanh niên tên Đen, là người đã bán ma túy cho bị can T nhưng không xác định được đối tượng c đặc điểm như lời khai của bị can T.

Vật ch ng thu giữ:

- 01 gói niêm ghi vụ số 05, bên ngoài có chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong ch a ma túy còn lại sau giám định. (BL 127)

- 1 điện thoại i động hiệu OPPO màu đỏ đen, là điện thoại bị can T ùng để liên lạc mua ma túy. (BL 60; 126)

- 1 điện thoại i động hiệu Wiko màu bạc bị bể màn hình, là tài sản cá nhân của bị can T.(BL 60; 126)

- 1 cân điện tử; 01 kéo; 30 túi nylon; 01 lọ thủy tinh có gắn ống hút nhựa; 01 ình gas mini. Đây là ụng cụ sử dụng ma túy do đối tượng Đen mang đến để tại phòng của bị can T (BL 30-31; 54; 60; 126)

- 01 chiếc xe mô tô hiệu Nouvo màu đỏ trắng, biển số 95F3-6827, thu giữ của bị can T. Bị can T khai mượn xe của một người tên Phú nhưng không iết lai lịch và địa chỉ của Phú ở đâu. Qua xác minh, chủ sở hữu là bà Nguyễn T T L. Bà L đã án xe mô tô trên cho một người không nhớ rõ lai lịch. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng áo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa c ai đến liên hệ làm việc (BL 30-31; 50-51;68-69; 126; 133).

- 01 cây dao (mã tấu), thu giữ của bị can Trần V T. Bị can T khai cây dao do một người bạn ngoài xã hội tặng cho bị can. Ngày 12/02/2020 Uỷ an nhân ân Quận 11 đã ra Quyết định số 21 QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với bị can Trần V T với số tiền 15. . đồng về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ mà không c giấy ph p” và ra lệnh xuất kho vật ch ng àn giao cho Đội Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội Công an Quận 11 để xử lý theo thẩm quyền (30-31; 107-112).

Tại Bản cáo trạng số 102/CT-VKSQ11 ngày 30/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Trần V T tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2 15 được sửa đổi, bổ sung năm 2 17.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần V T có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những ch ng c có trong hồ sơ vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Lai Ng A vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên, bà Lai Ng A đã c lời khai tại Cơ quan điều tra.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Đặng Đ P, bà Nguyễn T Ng và bà Nguyễn T T L vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên, ông P, bà Ng và bà L đã c lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với những ch ng c có trong hồ sơ vụ án. Ông P, bà Ng và bà L không có yêu cầu gì khác.

Người làm ch ng là bà Nguyễn T M H vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên, bà H đã c lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với những ch ng c có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo Trần V T từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt từ 2 năm đến 3 năm tù về tội “Ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt, đề nghị xử phạt bị cáo từ 3 năm đến 04 năm 6 tháng tù; đề nghị xử lý vật ch ng như sau: Tịch thu, tiêu hủy vật ch ng là 01 g i nylon được niêm phong ghi số vụ 05, ên trong ch a ma túy còn lại sau giám định; tịch thu, tiêu hủy 1 cân điện tử, 01 kéo, 30 túi nylon, 01 lọ thủy tinh có gắn ống hút nhựa, 01 bình gas mini, 1 điện thoại i động hiệu Wiko màu bạc bị bể màn hình; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 1 điện thoại i động hiệu OPPO màu đỏ đen; tiếp tục xác minh chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô hiệu Nouvo, biển số 95F3-6827, trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Căn c vào các ch ng c và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem x t đầy đủ, toàn diện ch ng c , ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

ào lúc 3 giờ 3 phút ngày 15 12 2 19, tại Phòng số 3 3, phòng cho thuê Xxx, tại địa chỉ x Ông Ích Khiêm, Phường x, Quận 11, ị cáo Trần T đã c hành vi cất giữ trong túi quần jean phía trước ên phải ,8166 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Bị cáo Trần T khai nhận sử ụng và nghiện chất ma túy từ năm 2019. Lời khai này phù hợp với lời khai của đối tượng Lai Ng A về việc c sử ụng ma túy chung với ị cáo T.

Bị cáo Trần T cất giấu ma túy nhằm mục đích để sử ụng.

Hành vi của bị cáo Trần V T là nguy hiểm cho xã hội, đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Ngoài hành vi như đã nêu trên, ị cáo Trần V T còn c hành vi như sau: Bị cáo Trần V T đã c hành vi sử dụng Phòng số 303, phòng cho thuê Xxx, tại địa chỉ x Ông Ích Khiêm, Phường x, Quận 11 để ở và đã cho đối tượng Lai Ng A cùng sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 12/12/2019.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần V T là nguy hiểm cho xã hội, đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Trần V T đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự xã hội. Bị cáo hoàn toàn ý th c được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đ , Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

ề tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Trần T tàng trữ chất ma túy là loại Methamphetamine c khối lượng ,8166g (không phẩy tám một sáu sám gam) nên thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật ình sự năm 2 15, được sửa đổi, ổ sung năm 2 17.

Bị cáo Trần V T thuê Phòng số 303, phòng cho thuê Xxx để ở và đã cho đối tượng Lai Ng A hai lần cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng do bị cáo T thuê. Tuy nhiên, quá trình điều tra chỉ xác định được bị cáo cho đối tượng Lai Ng A cùng sử dụng ma túy vào ngày 12/12/2019 tại phòng do bị cáo thuê. Việc đối tượng Lai Ng A khai ngoài việc có bị cáo T cùng với đối tượng Ng A cùng sử dụng ma túy vào ngày 12/12/2019 thì còn có đối tượng Đen cùng sử dụng ma túy tại phòng của bị cáo T; tuy nhiên, lời khai này của đối tượng Ng A không được bị cáo thừa nhận; ngoài ra, việc đối tượng Ng A khai ngoài việc cùng với bị cáo T sử dụng ma túy vào ngày 12/12/2019 thì cả hai có cùng sử dụng chung ma túy vào một ngày khác nhưng không xác định được rõ thời gian nào. Ngoài lời khai của đối tượng Ng A thì không còn ch ng c nào khác xác định việc đối tượng Đen c cùng tham gia sử dụng ma túy tại phòng của bị cáo T hay không và ngoài lần sử dụng ma túy vào ngày 12/12/2019 thì bị cáo T và đối tượng Ng A có còn sử dụng ma túy chung tại phòng do bị cáo T thuê vào ngày khác hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy c cơ sở để xác định bị cáo Trần V T chỉ sử dụng phòng thuê của bị cáo để cho đối tượng Lai Ng A cùng sử dụng ma túy vào ngày 12/12/2019. Do đ , hành vi ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Trần V T thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2 15, được sửa đổi, bổ sung năm 2 17.

ề các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, ị cáo thành khẩn khai áo nên được áp ụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật ch ng:

- Đối với vật ch ng là 01 g i niêm phong ghi số vụ 05 bên ngoài có chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra ên trong ch a ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ. Căn c điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2 15, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2 15, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với vật ch ng là 1 điện thoại i động hiệu OPPO màu đỏ đen, là điện thoại bị can T ùng để liên lạc mua ma túy. Đây là tài sản, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2 15, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2 15, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với vật ch ng là 1 điện thoại i động hiệu Wiko màu bạc bị bể màn hình, là tài sản cá nhân của bị can T. Tài sản đã ị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng; bị cáo không có nhu cầu nhận lại. Căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2 15, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2 15, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với vật ch ng là 1 cân điện tử, 01 kéo, 30 túi nylon, 01 lọ thủy tinh có gắn ống hút nhựa, 1 ình gas mini. Đây là ụng cụ sử dụng ma túy o đối tượng Đen mang đến để tại phòng của bị cáo T. Căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2 15; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2 15, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với vật ch ng là 01 chiếc xe mô tô hiệu Nouvo màu đỏ trắng, biển số 95F3-6827, thu giữ của bị cáo T. Bị cáo T khai mượn xe của một người tên Phú nhưng không biết lai lịch và địa chỉ của Phú ở đâu. Qua xác minh, Công an đã xác định được chủ sở hữu là bà Nguyễn T T L. Bà L khai đã án xe mô tô trên cho một người không nhớ rõ lai lịch. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng áo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa c ai đến liên hệ làm việc. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sử dụng chiếc xe để chở đối tượng Đen là người bán ma túy cho bị cáo, là phương tiện phạm tội; tuy nhiên, chiếc xe nêu trên chưa xác định được chủ sở hữu nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2 15; trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với vật ch ng là 01 cây dao (mã tấu), thu giữ của bị cáo Trần V T. Bị cáo T khai cây dao do một người bạn ngoài xã hội tặng cho bị cáo. Ngày 12/02/2020 Uỷ an nhân ân Quận 11 đã ra Quyết định số 21 QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Trần V T với số tiền 15. . đồng về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ mà không có giấy ph p” và ra lệnh xuất kho vật ch ng àn giao cho Đội Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội Công an Quận 11 để xử lý theo thẩm quyền. Hội đồng xét xử xét thấy vật ch ng đã được chuyển đến Ủy ban nhân dân Quận 11 xử lý theo đúng thẩm quyền nên không giải quyết lại.

ề xem x t vai trò, trách nhiệm của các đối tượng c liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng Lai Ng A đã c hành vi cùng với ị cáo Trần T sử ụng trái ph p chất ma túy tại Phòng số 3 3, phòng cho thuê Xxx vào ngày 12/12/2019. Lời khai của đối tượng Lai Ng A phù hợp với lời khai của ị cáo Trần T và phù hợp với kết quả x t nghiệm qua nước tiểu của đối tượng Lai Ng A o Bệnh viện Quận 11 thực hiện vào ngày 15/12/2019. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã chuyển đến Công an Phường 1 , Quận 11 lập iên ản vi phạm hành chính và xử phạt đối tượng Lai Ng A số tiền 75 . đồng về hành vi sử ụng trái ph p chất ma túy là đúng quy định của pháp luật nên ội đồng x t xử không giải quyết lại.

Đối tượng Lai Ng A không iết việc ị cáo Trần T c cất giấu ma túy ên trong túi quần trước ên phải của ị cáo T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 không c cơ sơ truy c u trách nhiệm hình sự đối với đối tượng Lai Ng A là c căn c .

Đối với nội ung khai mâu thuẫn giữa đối tượng Lai Ng A và ị cáo Trần T về việc c hay không sự việc ị cáo T sử ụng phòng thuê để cho đối tượng Lai Ng A cùng sử ụng ma túy hai lần, trong đ c một lần c đối tượng Đen cùng tham gia sử ụng ma túy. Do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 chưa tiến hành đối chất để làm r mâu thuẫn lời khai thì đối tượng Lai Ng A đã ỏ đi khỏi nơi cư trú, không xác định được chỗ ở nên không thể làm r , khi nào xác định được nơi cư trú của đối tượng Ng A và truy x t được sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng tên Đen là người đã c hành vi án ma túy và cho các ụng cụ sử ụng ma túy cho ị cáo Trần T vào tối ngày 12/12/2019, do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra không c cơ sở để xử lý là c căn c ; khi điều tra, truy x t được sẽ xử lý sau.

Đối với à Nguyễn T M là người quản lý phòng cho thuê Xxx o không iết ị cáo Trần T thuê phòng để cất giấu và sử ụng ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 không truy c u trách nhiệm hình sự và đưa à Nguyễn T M tham gia tố tụng với tư cách là người làm ch ng là c căn c .

Đối với ông Đặng Đ P, bà Nguyễn T Ng và bà Nguyễn T M là người chủ kinh oanh cơ sở phòng cho thuê Xxx nhưng không trực tiếp quản lý cơ sở mà giao lại cho bà Nguyễn T M trông coi, quản lý nên không iết ị cáo Trần T thuê phòng để cất giấu và sử ụng ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 không truy c u trách nhiệm hình sự và đưa ông Đặng Đ P, bà Nguyễn T Ng và bà Nguyễn T M tham gia tố tụng với tư cách là người c quyền lợi, ngĩa vụ c liên quan đến vụ án là có căn c .

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần V T, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn c diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, ch ng c phạm tội phù hợp với tài liệu ch ng c có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đ , c cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào Điều 50; khoản 1 Điều 55; điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2 15, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần V T;

Tuyên bố bị cáo Trần V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần V T 01 (một năm 6 (sáu tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 2 (hai năm 6 (sáu tháng tù về tội “Ch a chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành m c hình phạt chung là 04 (bốn năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2019.

Căn c Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2 15; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2 15;

- Tịch thu, tiêu hủy vật ch ng là một g i niêm phong ghi số vụ 05 bên ngoài có chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra ên trong ch a ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật ch ng số 21/LNK ngày 14/02/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 1 điện thoại i động hiệu OPPO màu đỏ đen (theo Lệnh nhập kho vật ch ng số 04/LNK ngày 18/12/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Tịch thu, tiêu hủy 1 điện thoại i động hiệu Wiko màu bạc bị bể màn hình, 01 cân điện tử, 01 kéo, 30 túi nylon, 01 lọ thủy tinh có gắn ống hút nhựa, 01 bình gas mini (theo Lệnh nhập kho vật ch ng số 04/LNK ngày 18/12/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 11 thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu c đến nhận đối với một chiếc xe mô tô hiệu Nouvo màu đỏ trắng, biển số 95F3-6827. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (theo Lệnh nhập kho vật ch ng số 04/LNK ngày 18/12/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn c vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2 15; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội Quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 2 . đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn c vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2 15;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ