- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Huy K - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Huy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2018/HSST Ngày: 10-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản
Bà Trần Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Huy K, sinh năm 1973 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: thôn A xã N, huyện B, tỉnh H; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Huy B và bà: Trần Thị T (đều đã chết); có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22-7-2011, Tòa án nhân dân huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 07-12-2017, chuyển tạm giam ngày 16-12-2017; có mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C, ông Đặng Thanh T (Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa; vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07-12-2017, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ trên tuyến đường S, phường T, thành phố N đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Trần Huy K, K lấy từ trong túi áo bên trái đang mặc 01 gói giấy màu xanh bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, K khai là gói Heroine mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng là K theo quy định của pháp luật, đưa K cùng người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản Kết luận giám định số 983/GĐKTHS ngày 07-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu K trưng cầu giám định là chất ma túy, loại ma túy là Heroine, có khối lượng là 0,140 (không phẩy một trăm bốn mươi) gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Huy K khai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07-12-2017, K đi ôm từ nhà đến thành phố N mua Heroine về mục đích để sử dụng. Khi đi đến đường T, K đi bộ gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch) đang đứng trước vỉa hè đường T (khu vực gần Cảng than) mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó K cất gói ma túy vào túi áo bên trái đang mặc rồi đi vào quán nước trên vỉa hè đường S (khu vực ngã tư S – N), phường T, thành phố N ngồi uống nước thì bị Công an phát hiện, bắt giữ và thu giữ, niêm phong vật chứng.
Bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 05-03-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Huy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Huy K khai: Ngày 07-12-2017, bị cáo mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, cất gói ma túy vào túi áo bên trái đang mặc rồi đi vào quán nước trên vỉa hè đường S (khu vực ngã tư S – N), phường T, thành phố N ngồi uống nước thì bị Công an bắt giữ, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Huy K không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Huy K khai nhận đã mua 01 gói Heroine cất giấu trong người mục đích để sử dụng. Bản kết luận giám định số 983/GĐKTHS ngày 07-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng thu giữ của bị cáo được niêm phong trưng cầu giám định là ma túy, loại ma túy là Heroine, có khối lượng là 0,140 (không phẩy một trăm bốn mươi) gam. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Huy K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Huy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Huy K 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07-12-2017.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã thu giữ (Chi tiết vật chứng ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02-3-2018 giữa Công an thành phố Nam Định và Chi cục Thi hành án thành phố Nam Định tỉnh Nam Định).
3. Án phí: Bị cáo Trần Huy K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Huy K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |