- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lương T - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lương T phạm tội:“Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2018/HS-ST Ngày: 23-8-2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN- TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Ngọc Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Văn Thiện
2. Ông Đặng Nguyên Khang
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Tạ Thị Dung-Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên tham gia phiên tòa:Bà Vi Thị Hà-Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dânthị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2018/TLST-HS ngày 27/6/2018; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/QĐXX-ST ngày 08/8/2018đối với bị cáo:
Nguyễn Lƣơng T,sinh năm 1953.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm C, xã Đ, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn 7/10;Con ông: Nguyễn Lương G (đã chết); con bà Trương Thị S (đã chết). Gia đình có 05 anh, em. Bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Tạ Thị H, sinh năm 1965; có 04 con, con lớn sinh năm 1978, con nhỏ sinh năm 1983 (đã chết).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị giam, giữ.Hiện nay đang tại ngoại tại xóm C, xã Đ, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên . Có mặt tại phiên tòa. *Người chứng kiến: Hoàng Công Tỉnh, sinh năm 1964. Trú tại: xóm Hưng Thịnh 2, xã Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Cómặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 20 phút, ngày 01/02/2018, Tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Hưng Thịnh 2, xã Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên thì phát hiện Nguyễn Lương T có biểu hiện tàng trữ trái phép vật liệu nổ. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, T tự nguyện giao nộp một vật không rõ hình, bên ngoài được bọc bằng nilon màu trắng, bên trong chứa dạng nhũ tương màu vàng, có gắn một vật hình trụ vỏ bằng kim loại màu trắng dài 3,8cm, đường kính 0,6cm và 01 đoạn dây màu đen dài 3,5 cm, đường kính 0,5 cm, tất cả được gắn lại với nhau bằng dây chun màu đen, theo Nguyễn Lương T khai đó là mìn tự tạo, T mang theo mục đích để sử dụng đánh cá. Ngày 24/4/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét nơi ở của T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Một vật không rõ hình được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng bên trong có chứa chất dạng nhũ tương màu vàng ký hiệu là M là vật liệu nổ, loại thuốc nổ nhũ tương, thành phần gồm có NH4N03(Amoninitrat) và sáp nến. Mẫu vật ký hiệu M có khối lượng 179,7gam; một doạn dây màu đen dài 3,5cm đường kính 0,5 cm ký hiệu N là vật liệu nổ, loại dây cháy chậm; một vật hình trụ vỏ bằng kim loại mầu trắng dài 3,8 cm, đường kính 0,6 cm ký hiệu là N là vật liệu nổ, loại kíp nổ.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Lương T khai: Khoảng năm 2016 T đi đánh cá ở khu vực sông Công gần núi Tảo thuộc địa phận thành phố Sông Công thì gặp và xin của mấy người không quen biết 01 quả mìn tự tạo về để đánh cá. Quả mìn có đặc điểm gồm thuốc nổ, kíp nổ và sợi dây cháy chậm được kết nối với nhau, bên ngoài được bọc bằng túi nilon màu trắng, kíp nổ, dây cháy chậm được gắn vào bằng dây chun màu đen quấn xung quanh. T mang quả mìn đó về cất dưới gầm thùng gố đựng thóc trong nhà bếp gia đình và không nói cho ai biết, đến khoảng 16 giờ ngày 01/02/2018 mang ra khu vực ven bờ sông Công thuộc xóm Hưng Thịnh 2, xã Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên để đánh cá thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 18/CT-VKS-P1 ngày 25/6/2018,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố Nguyễn Lương Tra trước Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên để xét xử về tội: "Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ" theo khoản 1 Điều 305Bộ luật hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xác định việc truy tố tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng, không oan sai.
Trong phần luận tội, sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Lương T phạm tội: "Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ".
- Áp dụng:khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Nguyễn Lương T từ 12 đến18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu tiêu hủy: Thuốc nổ nhũ tương = 138,7 gam (Để trong 01 túi giấy, ký hiệu là M, đã và còn nguyên niêm phong); Một (01) túi giấy, ký hiệu N, đã và còn nguyên niêm phong (Bên trong chứa một (01) đoạn dây cháy chậm dài 3,5cm, một (01) kíp nổ vỏ nhôm).
- Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, Công an thị xã Phổ Yên, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Viện kiểm sát nhân thị xã Phổ Yên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay Nguyễn Lương T thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo là đúng tội, không oan. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Hồi 16 giờ 20 phút, ngày 01/02/2018 tại khu vực bờ sông Công thuộc xóm Hưng Thịnh 2, xã Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Lương T đã có hành vitàng trữ trái phép một quả mìn tự chế có khối lượng 179,7gam loại thuốc nổ nhũ tương, gồm thuốc nổ, kíp nổ và dây cháy chậm đã được liên kết với nhau, mục đích của T là kích nổ quả mìn ném xuống sông để đánh cá, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Lương T đã phạm vào tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”.Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1, Điều 305 BLHS năm 2015 như sau: “1. Người nào …tàng trữ…sử dụng ….trái phép ….vật liệu nổ thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với vật liệu nổ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có nhận thức, đủ biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Xét nhân thân và các các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào; Trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra vµ t¹i phiªn tßa có thái độthµnh khÈn khai b¸o, ¨n n¨n hèi c¶i về hành vi phạm tội, nªn ® îc h ëng t×nh tiÕt gi¶m nhÑ trách nhiệm hình sự ® îc quy ®Þnh t¹i ®iÓm s kho¶n 1 ®iÒu 51Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, được Ủy ban nhân dân xã Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên bảo lãnh, xin cho hưởng án treo và cam kết theo dõi, quản lý giám sát, giáo dục, bị cáo là người bị nhiễm chất độc hóa học Dioxin trong chiến tranh, hiện nay đang được hưởng chính sách trợ cấp của Nhà nước, nên cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. BÞ c¸o không ph¶i chÞu t×nh tiÕt t¨ng nÆng trách nhiệm hình sự nào. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét không cần thiết xử phạt tù giam mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 305 BLHS. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo cao tuổi,bị suy giảm khả năng lao động. Xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án:Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên tiêu hủy số vật chứng của vụ án còn lại sau giám định gồm: Thuốc nổ nhũ tương = 138,7 gam (Để trong 01 túi giấy, ký hiệu là M, đã và còn nguyên niêm phong); Một (01) túi giấy, ký hiệu N, đã và còn nguyên niêm phong (Bên trong chứa một (01) đoạn dây cháy chậm dài 3,5cm, một (01) kíp nổ vỏ nhôm).
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy có thể chấp nhận mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay.
Trong vụ án này, Tạ Thị Hồng là vợ của Nguyễn Lương T, là người cùng quản lý ngôi nhà với T, nhưng bà Hồng không biết việc T xin được quả mìn tự tạo và mang về cất dấu dưới gầm hòm gỗ đựng thóc trong bếp của gia đình, không biết T mang quả mìn đó ra sử dụng, do vậy Cơ quan điều tra không xử lý đối với Tạ Thị Hồng. Nguồn gốc quả mìn tự tạo Nguyễn Lương T khai là xin của người không quen biết ở khu vực chân núi Tảo thuộc địa phận thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được họ, tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lương T phạm tội:“Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”
1. Áp dụng: khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015xử phạt Nguyễn Lương T 12 (mười hai) thángtù nhưng cho hưởng án treo,thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bÞ c¸o Nguyễn Lương T cho Ủy ban nhân dân x· Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên quản lý, gi¸m s¸t, gi¸o dôc trong thêi gian thö th¸ch.Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo Nguyễn Lương T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên tiêu hủy số vật chứng của vụ án còn lại sau giám định gồm: Thuốc nổ nhũ tương = 138,7 gam (Để trong 01 túi giấy, ký hiệu là M, đã và còn nguyên niêm phong); Một (01) túi giấy, ký hiệu N, đã và còn nguyên niêm phong (Bên trong chứa một (01) đoạn dây cháy chậm dài 3,5cm, một (01) kíp nổ vỏ nhôm).
(số vật chứng nêu trên hiện đang ở kho của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thái Nguyên, theo Quyết định chuyển vật chứng số 136, Lệnh nhập kho vật chứng số 26, Biên bản giao nhận vật chứng số 26 ngày 29/03, ngày 02/04/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên).
4. Về án phí và quyền kháng cáo:Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Nguyễn Lương Tphải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xö c«ng khai s¬ thÈm cã mÆt bÞ c¸o. B¸o cho biÕt cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh TN; - Sở Tư pháp tỉnh thái nguyên; - VKS ND tỉnh, thị xã ; - CA thị xã Phổ Yên; - THA DS thị xã Phổ Yên; - UBND xã Đắc Sơn; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Lưu HS. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Ngọc |