vanban.org

Bản án 98/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 20/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong gồm: 01 phong bì theo niêm phong có số: 1081/PC54, bên trong có 7,5481 gam hêrôin và 02 vỏ bao bì đánh số thứ tự MS1, MS2; 01 phong bì theo niêm phong có số: 1082/PC54, bên trong có 4,8988 gam hêrôin và 01 cân điện tử màu trắng đã cũ; 05 túi nilon kích thước … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Hai - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2018/HS-ST
Ngày 20 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký Tòa án: Bà Ngô Trần Phương Thảo - là Thư ký Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2018/TLST HS ngày 14 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê H, sinh ngày 28 tháng 9 năm 197A tại H.P; nghề nghiệp: Không. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 1/248 H.K, phường H.K, quận L.C, thành phố H.P (trước năm 1992 cắt khẩu đi nghĩa vụ quân sự, đến nay chưa nhập khẩu trở lại); tạm trú: Số 19/240 H.K, phường H.K, Quận L.C, thành phố H.P; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê S và bà Nguyễn Thị H; có vợ Trần Thị Hải Y và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: có 01 tiền án năm 1995 đã được xóa, năm 1992 đi nghĩa vụ quân sự sau đảo ngũ; bị bắt tạm giữ ngày 26/10/2017, chuyển tạm giam ngày 31/10/2017: Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 20 phút ngày 25/10/2017, Tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn phát hiện và bắt quả tang Lê Hải có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực trước cửa nhà số 47/69 C.C, phường T.C, Quận L.C. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an đã phát hiện, thu giữ tại túi quần trái của H đang mặc 01 mảnh nilon bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng nghi hêrôin, thu giữ tại túi quần bên phải của H 02 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng nghi hêrôin. Tổ công tác đã dẫn giải Lê H cùng vật chứng về trụ sở Công an quận lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của Lê H 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 16N9-4732.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê H tại số nhà 19/240 H.K, quận Lê Chân, Cơ quan Công an thu giữ 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 túi nilon kích thước khoảng 4x6cm chứa chất bột màu trắng nghihêrôin, 01 cân điện tử màu trắng, 05 túi nilon kích thước 4x6cm, 05 túi nilon kích thước 2x2cm, 05 bơm kim tiêm và 05 ống nước cất.

Kết luận giám định số 1081/PC54(MT) ngày 27/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hải Phòng: Chất bột thu giữ trong túi quần bên trái và bên phải của Lê H có khối lượng 7,3918 gam và 0,6981 gam là loại hêrôin.

Kết luận giám định số 1082/PC54(MT) ngày 28/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hải Phòng: Chất bột thu giữ tại nơi ở của Lê H có khối lượng 5,1834 gam là loại hêrôin.

Lê H khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 25/10/2017, Nguyễn Thị H, sinh năm 197Y; chỗ ở: số 26/7/69 C.C, phường T.C, Quận L.C, thành phố H.P đến nhà H và bảo H đến nhà H để gặp Nguyễn Huy K, sinh năm 197A là chồng của H. H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16N9-4732 đến nhà H và gặp K ở cổng nhà. Tại đây, K nhờ H mua cho K 02 chỉ hêrôin, hai bên thỏa thuận giá là 4.800.000 đồng và tiền công là 200.000 đồng. H điều khiển xe mô tô đến khu vực bờ mương hồ Ô.B gặp và mua trực tiếp của đối tượng nam giới tên là B “đen” 02 chỉ hêrôin với giá 4.000.000 đồng. H mang số ma túy trên về nơi ở của mình tại số 19/240 H.K, quận L.C, H.P lấy ra khoảng 02 “phân” hêrôin đóng thành 02 túi nilon để H sử dụng cho bản thân, số ma túy còn lại để bán cho K thì H đóng vào 01 túi nilon và bọc bằng 01 mảnh nilon màu đen. Sau đó, H cất số ma túy vừa mua được vào trong hai túi quần của mình rồi điều khiển xe mô tô đến nhà K để giao ma túy cho K và nhận tiền. Khi H đến khu vực trước cửa nhà số 47/69 C.C thì bị lực lượng công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Ngoài ra, Lê H còn khai trước đó khoảng 12 giờ ngày 21/10/2017, H cũng đến gặp H nói sang gặp K và tại nhà H, K đã nhờ H mua cho 01 “chỉ” hêrôin với giá 2.400.000 đồng. H mua 01 “chỉ” hêrôin với giá 2.000.000 đồng rồi giao cho K. H được K trả công 200.000 đồng và 0,5 “phân” hêrôin cùng số tiền hưởng chênh lệch là 400.000 đồng.

Đối với số ma túy thu tại nơi ở của Lê H khi khám xét khẩn cấp, H khai là của Hải mua ngày 18/10/2018 của đối tượng B “đen” với mục đích sử dụng cho bản thân và để bán. Việc mua ma túy ngày 18/10/2017, không có ai tham gia và không ai biết. Khi giao dịch với B “đen”, H đều trực tiếp đến khu vực hồ O.B tìm, H biết B “đen” bán ma túy là do Q là bạn quen biết ngoài xã hội giới thiệu.

- Nguyễn Thị H và Nguyễn Huy K khai nhận: Có quen biết và có quan hệ bạn bè, hàng xóm với H nhưng phủ nhận việc nhờ, mua hêrôin của H như H đã khai. K nhận bản thân K có nghiện ma túy (hêrôin) đã lâu nhưng K chưa bao giờ nhờ H mua hộ hêrôin hoặc mua hêrôin của Hải.

Tiến hành đối chất, H, H đều giữ nguyên lời khai của mình.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận như nội dung trên và khai số ma túy cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang và số ma túy bị thu giữ khi khám nhà là của bị cáo; mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Số tiền mua ma túy là do bị cáo làm xe ôm có, bản thân bị cáo không có công việc ổn định và tài sản riêng; bị cáo đang ở nhờ anh trai tại số 19/240 H.K, phường H.k, Quận L.C, thành phố H.P.

Bản Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 11 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo: Lê H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Mặc dù Lê H khai nhận đã nhiều lần mua ma túy của B “đen” và hai lần mua hộ ma túy cho Nguyễn Huy K để được trả công và hưởng chênh lệch. Tuy nhiên, ngoài lời khai của Lê H thì không còn chứng cứ nào khác. Những lần H đi mua ma túy thì không có ai cùng đi, không có ai biết. Các đối tượng H và K đều không nhận nhờ H mua hộ ma túy. Do vậy, chỉ đủ cơ sở kết luận: Lê H đã có hành vi cất giữ trái phép 13,2733 gam hêrôin với mục đích để bán kiếm lời và bị bắt quả tang khi đang mang ma túy đi bán vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 25/10/2017 tại khu vực trước cửa số nhà 47/69 C.C, phường T.C, Quận L.C. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Lê H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê H mức án từ 09 đến 10 năm tù.

Do bị cáo không có công việc và tài sản riêng, đề nghị Hội ồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ma túy còn lại sau giám định; 01 cân điện tử màu trắng đã cũ; 05 túi nilon kích thước 4x6cm; 05 túi nilon kích thước 2x2cm; 05 bơm tiêm, 05 ống nước cất thu giữ của bị cáo.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần dân sự;

Đối với đối tượng tên B “đen”, do không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân chưa có căn cứ để điều tra, làm rõ; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với Nguyễn Thị H và Nguyễn Huy K, tài liệu điều tra hiện nay chưa đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục thu thập tài liệu, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16N9-4732, Lê H khai cầm cố của người có tên là Q, Hải không biết căn cước, lai lịch. Quá trình điều tra xác định là xe có biển kiểm soát 16L2-2092, chủ đăng ký xe là Đỗ Văn T, địa chỉ: Q.T, A.L, H.P. Anh T khai đã bán cho người có tên là Vinh, hiện nay chưa xác định được căn cước, lai lịch của V. Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra làm rõ xử lý sau; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Bị cáo tự bào chữa: Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa và công nhận lời luận tội đúng hành vi phạm tội, không bị oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Lê H đã có hành vi cất giữ trái phép 13,2733gam hêrôin với mục đích để bán kiếm lời và bị bắt quả tang khi đang mang ma túy đi bán vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 25/10/2017 tại khu vực trước cửa số nhà 47/69 C.C, phường T.C, Quận L.C. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng và luận tội bị cáo Lê H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà Nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.

Bị cáo là người hiểu, biết tác hại của ma túy, biết pháp luật xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi liên quan đến ma túy nhưng do vụ lợi và phục vụ cho bản thân là người sử dụng ma túy (theo lời khai nhận của bị cáo là nghiện ma túy từ năm 1998) nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có, mặc dù ngày 29/12/1995 tại án số 207/HSST, Tòa án nhân dân quận Lê Chân đã xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc” đến nay đã xóa. Lý lịch bị can chính quyền địa phương nhận xét và bị cáo thừa nhận năm 1992 đi nghĩa vụ quân sự được 06 tháng sau đảo ngũ.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên cho thấy bị cáo có ý thức coi thường pháp luật nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, để bị cáo có thời gian cách ly ma túy và phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi, nhưng tài liệu điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận không có tài sản riêng, công việc ổn định; nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

- Về xử lý vật chứng:

Lượng ma túy (hêrôin) cơ quan công an thu giữ của bị cáo khi bắt giữ có khối lượng 8,0899 gam (thu tại túi quần bên trái và bên phải của bị cáo, được đánh số MS1, MS2) và khi khám xét nhà có khối lượng 5,1834 gam được niêm phong trong 03 phong bì.

Sau khi đã lấy đi giám định, lượng còn lại của MS1, MS2 là 7,5481 gam được niêm phong lại trong 01 phong bì theo niêm phong số: 1081/PC54 và lượng hêrôin thu giữ khi khám nhà bị cáo sau khi lấy giám định, lượng còn lại là 4,8988 gam được niêm phong lại trong 01 phong bì theo niêm phong số: 1082/PC54. Xét đây là vật cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 cân điện tử màu trắng đã cũ; 05 túi nilon kích thước 4x6cm; 05 túi nilon kích thước 2x2cm; 05 bơm tiêm, 05 ống nước cất thu giữ của bị cáo. Xét không có giá trị sử dụng và liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ thu giữ của bị cáo; bị cáo khai dùng để liên lạc với người thân, tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội; nên trả lại bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần dân sự.

Đối với Nguyễn Thị H và Nguyễn Huy K, tài liệu điều tra hiện nay chưa đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục thu thập tài liệu, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.

Đối với đối tượng tên B “đen”, do không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân chưa có căn cứ để điều tra, làm rõ; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16N9-4732, bị cáo khai khai cầm cố của người có tên là Q; bị cáo không biết căn cước, lai lịch. Quá trình điều tra xác định là xe có biển kiểm soát 16L2-2092, chủ đăng ký xe là Đỗ Văn T, địa chỉ: Q.T, A.L, H.P. Anh T khai đã bán cho người có tên là V, hiện nay chưa xác định được căn cước, lai lịch của V. Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra làm rõ xử lý sau; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: Lê H 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 26/10/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong gồm: 01 phong bì theo niêm phong có số: 1081/PC54, bên trong có 7,5481 gam hêrôin và 02 vỏ bao bì đánh số thứ tự MS1, MS2; 01 phong bì theo niêm phong có số: 1082/PC54, bên trong có 4,8988 gam hêrôin và 01 cân điện tử màu trắng đã cũ; 05 túi nilon kích thước 4x6cm; 05 túi nilon kích thước 2x2cm; 05 bơm tiêm, 05 ống nước cất.

- Trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ cho bị cáo Lê Hải nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần dân sự.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 6 năm 2018).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ