vanban.org

Bản án 98/2017/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 05/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu c u kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung N; gi nguyên quy t định mức hình phạt t án sơ thẩm đã tuyên.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung N 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt t t nh từ ngày 28/11/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma t y” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hìn…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu c u kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung N; gi nguyên quy t định mức hình phạt t án sơ thẩm đã tuyên.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2017/HS-PT
Ngày: 05-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trị.

Các Thẩm phán:

- Ông Tạ Quốc Việt;

- Bà Nguyễn Thị Phương Bắc.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hùng Cường, kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lưu động phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2017/HSPT ngày 07/8/2017 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung Nam đối với bản án hình sự sơ thẩm số 58/2017/HS-ST ngày 23/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Trung N; sinh năm 1995 tại tỉnh T; HKTT: khu phố N, thị trấn M, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; Con ng Nguyễn Văn Ư và bà L Thị Ái N; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Tiền án, tiền sự: không;

Bị b t tạm gi ngày 28/11/2016; tạm giam ngày 01/12/2016 đ n nay. (Có m t).

Bị cáo không có kháng cáo:

1. Đ Văn B, sinh năm 1980 tại tỉnh T; H TT: Phòng 205 Chung cư M, khu phố H, thị trấn M, huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2. Nguyễn Duy Q; tên g i khác: Nh , sinh năm 1986 tại tỉnh G; H TT: ấp T, xã Đ, huyện H, tỉnh G; Tạm trú: khu phố P thị trấn M, huyện T, tỉnh T.

3. Đinh Hoàng P, sinh năm 1991 tại tỉnh T; H TT: T 18, khu phố H, thị trấn M, huyện T, tỉnh T.

Ngư i có quy n l i, ngh a v liên quan không kháng cáo: Bà Đinh Thị H, sinh năm 1965; trú tại: T 18, khu phố H, thị trấn M, huyện T, tỉnh T.

Do các bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên kh ng triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung N được tóm t t như sau:

Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 28/11/2016 Nguyễn Xuân T g i điện cho Đ Văn B h i mua 800.000 đ ng ma túy để sử dụng, B đ ng ý và h n nhau tại khu vực nhà nghỉ C, ấp V, xã P, huyện T để giao dịch mua bán. Lúc này Đinh Hoàng P đang có m t tại nhà B nên B đưa cho P một gói ma túy t ng hợp nhờ đem giao cho T, P đ ng ý. hoảng 20 giờ c ng ngày P đem gói ma túy đ n điểm h n, khi P chuẩn bị giao ma túy cho T thì bị lực lượng C ng an huyện Tân Thành b t gi cả hai. Tang vật thu gi g m: Thu gi của P 01 gói nylon được hàn k n, bên trong chứa chất k t tinh kh ng màu, trong suốt; 01 điện thoại di động hiệu Blackbery Bold; 01 xe máy biển số 72E1-046.63 (đứng tên Đinh Thị H). Thu gi của T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; tiền m t 800.000 đ ng. Sau khi bị b t thì P khai nhận việc B nhờ giao ma túy cho T. C ng ngày 28/11/2016 Cơ quan điều tra đã thực hiện Lệnh b t và khám xét khẩn cấp nơi ở của B và thu gi được 05 gói nylon hàn k n bên trong chứa chất k t tinh kh ng màu, trong suốt; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 4 và 200.000 đ ng.

Ngoài l n bị b t quả tang trên, B còn đưa ma túy t ng hợp cho Nguyễn Trung N, Nguyễn Duy Q bán cho Nguyễn Xuân T, B không trả tiền c ng mà cho N và Q ma túy t ng hợp để sử dụng, cụ thể các l n bán ma túy như sau:

n th nh t hoảng 19 giờ ngày 27/11/2016 B đang ở nhà thì Nguyễn Xuân T và K (chưa r nhân thân, lai lịch) c ng g i điện cho B m i người h i mua 300.000 đ ng ma túy t ng hợp để sử dụng, B đ ng ý bán và h n g p cả hai tại khu n viên chung cư M. Tại nhà B lúc này có m t Nguyễn Trung N nên B đưa cho N 01 gói giấy tr ng trong đó có 01 gói ma túy t ng hợp và 01 ống n i thủy tinh để sử dụng ma túy giao cho T, 01 gói ma túy t ng hợp giao cho K. N bi t B nhờ bán ma túy giúp nhưng đ ng ý làm. Do N kh ng bi t m t T và K nên B có nhờ Lê Thị M N đi theo N để chỉ m t. hi N và N g p nhau thì N đưa 02 gói ma túy cho N c m, đi đ n khu n viên chung cư nhìn thấy T đang ng i ở gh đá, N đ n đưa gói ma túy cho T và nhận số tiền 290.000 đ ng. Ra c ng chung cư N đưa cho K gói ma túy và nhận 300.000 đ ng về đưa lại cho B.

n th hai hoảng 22 giờ ngày 27/11/2016 T g i điện cho B h i mua 300.000 đ ng ma túy t ng hợp, B đ ng ý và h n g p giao ma túy ở trước c ng chung cư. Lúc này có Nguyễn Duy Q đang chơi tại nhà B và chuẩn bị về nên B lấy 01 gói ma túy đưa cho Q nhờ đi giao cho T, Q bi t việc trên và đ ng ý c m ma túy đi giao cho T trước c ng chung cư và lấy 300.000 đ ng giao lại cho B.

n th ba hoảng 10 giờ ngày 28/11/2016 T g i điện cho B h i mua 300.000 đ ng ma túy t ng hợp, B đ ng ý và h n g p nhau tại khu vực nhà nghỉ AC. Lúc này có Nguyễn Trung N đang chơi ở nhà B nên B đã đưa 01 gói ma túy t ng hợp nhờ N đi giao cho T, N đ ng ý và đi đ n điểm h n giao cho T và lấy tiền về đưa cho B.

Tại bản k t luận giám định số: 223/GĐ-PC54 ngày 23/12/2016 của Phòng k thuật hình sự C ng an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu:

1. Chất k t tinh kh ng màu- trong suốt chứa trong một gói nylon hàn k n (m u A1), được niêm phong trong một phong bì màu tr ng (Số thứ tự 01) gửi đ n giám định có tr ng lượng là 0,4827 gam, có Methamphetamine.

2. Chất k t tinh kh ng màu- trong suốt chứa trong năm gói nylon hàn k n (m u A2), được niêm phong trong một phong bì màu tr ng (Số thứ tự 02) gửi đ n giám định có tr ng lượng là 3,0024 gam, có Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy n m trong Danh mục II, số thứ tự 67 của Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Ch nh phủ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2017/HS-ST ngày 23/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành quy t định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p, o khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N 08 (Tám) năm t , thời hạn chấp hành hình phạt t t nh từ ngày 28/11/2016.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên hình phạt cho các bị cáo khác, xử lý vật chứng; án ph sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Trong thời hạn kháng cáo: Ngày 7/7/2017, bị cáo Nguyễn Trung N có đơn xin giảm nh hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo gi nguyên yêu c u kháng cáo như đã nêu trong đơn.

Đại diện Viện kiểm sát gi quyền c ng tố tại phiên tòa đã xem xét toàn bộ nội dung vụ án và đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, các tình ti t tăng n ng, giảm nh , xét thấy bản án sơ thẩm xét xử đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm đã tuyên ph hợp với t nh chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; tại phiên tòa h m nay bị cáo kh ng cung cấp chứng cứ nào mới theo quy định pháp luật nên kh ng có căn cứ để xem xét lại án sơ thẩm. Đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự xử kh ng chấp nhận kháng cáo, gi y mức án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Nguyễn Trung N.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào k t quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện chứng cứ, sau khi nghe ý ki n của iểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Trung N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ có trong h sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Từ ngày 27/11/2016 đ n ngày 28/11/2016 tại khu vực chung cư M, thị trấn M, huyện T. Nguyễn Trung N đã nhận ma túy t ng hợp Methamphetamine từ Đ Văn B đã đưa cho và bán cho Nguyễn Xuân T ki m lời, trong đó: B giao hai gói ma túy cho N bán hai l n cho T m i l n được 300.000 đ ng; B giao một gói ma túy cho Q bán cho T được 300.000 đ ng và B giao cho P một gói ma túy t ng hợp Methamphetamine, tr ng lượng 0,4827 gam bán cho T giá 800.000 đ ng thì bị b t quả tang.

Như vậy đã có đủ cơ sở k t luận tội danh của bị cáo đúng như Tòa cấp sơ thẩm xét xử. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý nhà nước đối với ma túy và chất gây nghiện, là nguyên nhân của nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội liên quan đ n ma túy, ảnh hưởng xấu đ n an ninh trật tự tại địa phương.

Xét kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội; đã áp dụng đ y đủ các tình ti t giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo; mức án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Theo yêu c u kháng cáo xin giảm nh hình phạt nhưng bị cáo không cung cấp chứng cứ giảm nh nào mới theo quy định pháp luật, nên Hội đ ng xét xử thấy kh ng có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo.

Các quy t định khác của án sơ thẩm kh ng bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo phải chịu án ph hình sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận yêu c u kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung N; gi nguyên quy t định mức hình phạt t án sơ thẩm đã tuyên.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p, o khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung N 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt t t nh từ ngày 28/11/2016.

Án ph hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Trung N nộp 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng).

Các quy t định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ