vanban.org

Bản án 978/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 15/11/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2023/HC- ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D. Hủy Quyết định số 1733/QĐ-UBND ngày 22 tháng 04 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai cho ông Nguyễn Tiến D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Tiến Dũng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2023/HC- ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 158 Luật Tố tụng hành chính; Điều 164 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 978/2023/HC-PT
Ngày 15 tháng 11 năm 2023.
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính về việc hỗ trợ khác khi
Nhà nước thu hồi đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán:

Ông Hà Huy Cầu

Bà Lê Thị Tuyết Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 601/2023/TLPT-HC ngày 28 tháng 8 năm 20về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về việc hỗ trợ khác khi Nhà nước thu hồi đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2023/HC-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2732/2023/QĐPT-HC ngày 18 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

Người khởi kiện:

Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1968, địa chỉ thường trú: Khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tiến D: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1961, địa chỉ thường trú: Khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Người bị kiện:

Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang, địa chỉ: số D đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H, chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T1, chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố P (có đơn xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích của Ủy ban nhân dân thành phố P: Ông Trương Quốc T2, chức vụ: Trưởng Ban bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố P (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Người khởi kiện là ông Nguyễn Tiến D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

Theo đơn khởi kiện, qua giải quyết vụ án người khởi kiện ông Nguyễn Tiến D và người đại diện theo ủy quyền ông Vũ Văn T trình bày:

Ông Nguyễn Tiến D có diện tích đất 4.096,60m2 tại ấp G, thị trấn A, huyện P (nay là Khu phố G, phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang, có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn S vào năm 2003 sử dụng trồng Tràm bông vàng cho đến khi quy hoạch dự án Đường vòng quanh đảo đoạn A - C.

Ngày 13/9/2013 Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố P ban hành Quyết định số 4311/QĐ-UBND thu hồi đất của ông D để thực hiện dự án Đường vòng quanh đảo đoạn A - C.

Ngày 22/4/2021 UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1733/QĐ-UBND về việc bổ sung hỗ trợ đất đai cho ông D với số tiền 278.568.800 đồng.

Ông Nguyễn Tiến D cho rằng, việc bổ sung hỗ trợ của UBND thành phố P đất đai cho ông D là không phù hợp ảnh hưởng đến cuộc sống, gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình.

Ông Nguyễn Tiến D yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Quyết định số 1733/QĐ-UBND ngày 22 tháng 4 năm 2021 của UBND thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai cho ông Nguyễn Tiến D.

- Buộc UBND thành phố Phú Quốc ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ mới về đất đai diện tích 4.096,60m2 tại Khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho ông Nguyễn Tiến D.

Văn bản số 816/UBND-NCPC ngày 24/5/2023 người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:

Để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường vòng quanh đảo Phú Quốc đoạn A - C tại xã D, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Ngày 19/3/2010 Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập Biên bản kiểm kê diện tích đất đai, cây trồng, vật kiến trúc đối với diện tích 4.096,6m2 của ông Nguyễn Tiến D.

Ngày 09/8/2013 Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện P ban hành Biên Bản số 105/BB-HĐ, về việc thẩm định nội nghiệp với nội dung: “Những hộ bao chiếm đất sau ngày 01/7/2004, xây dựng nhà, vật kiến trúc, cây trồng sau ngày công bố quy hoạch thì không được bồi thường, hỗ trợ.”

Ngày 24/8/2013 Hội đồng Tư vấn xét duyệt đất đai thị trấn A tổ chức xét duyệt nguồn gốc đất đối với ông Nguyễn Tiến D như sau: Diện tích 4.096,6m2 đất rừng phòng hộ do bao chiếm vào năm 2005.

Ngày 09/9/2013 UBND huyện P ban hành Quyết định số 4165/QĐ-UBND, về việc điều chỉnh Quyết định số 2155/QĐ-UBND ngày 05/4/2013 của UBND huyện P phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Theo Quyết định số 4165/QĐ-UBND thì ông Nguyễn Tiến D không được bồi thường, hỗ trợ đất đai, cây trồng, vật kiến trúc đối với diện tích diện tích 4.096,6m2.

Ngày 13/9/2013 UBND huyện P ban hành Quyết định số 4311/QĐ-UBND, về việc thu hồi đất đối với ông Nguyễn Tiến D để thực hiện dự án diện tích 4.096,6m2, loại đất: Đất rừng phòng hộ.

Ngày 25/12/2019 Bộ T3 ban hành Văn bản số 6939/BTNMT-TTr, về việc giải quyết khiếu nại của 08 hộ dân huyện P với nội dung: Hỗ trợ 40% giá trị đất theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh K đối với diện tích 4.096,6m2 của ông Nguyễn Tiến D.

Ngày 21/01/2020 Thanh tra tỉnh Kiên Giang có Báo cáo số 17/BC-TTr, kết quả nghiên cứu và đề xuất hướng thực hiện kết quả giải quyết khiếu nại của 08 hộ dân huyện P với nội dung: Hỗ trợ 40% giá trị đất theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh K đối với diện tích 4.096,6m2 của ông Nguyễn Tiến D.

Ngày 21/02/2020 UBND tỉnh K ban hành Công văn số 223/UBND-TCD, về việc thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ và hướng dẫn của Bộ T3, về việc giải quyết khiếu nại của 08 hộ dân huyện P với nội dung: “Trên cơ sở kiến nghị của Thanh tra tỉnh tại Báo cáo số 17/BC-TTr ngày 21/01/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh có ý kiến như sau:

- Thống nhất chủ trương theo kiến nghị của Thanh tra tỉnh tại Báo cáo số 17/BC-TTr ngày 21/01/2020.

- Đề nghị UBND huyện P chủ trì, phối hợp với các sở, ngành chức năng có liên quan thực hiện: Văn bản số 6939/BTNMT-TTr ngày 25/12/2019 của Bộ T3; kiến nghị của Thanh tra tỉnh tại Báo cáo số 17/BC-TTr ngày 21/01/2020. Trong quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc, UBND huyện P có văn bản báo cáo UBND tỉnh (qua Ban Tiếp công dân tỉnh) để xem xét, có ý kiến chỉ đạo”.

Căn cứ Công văn số 223/UBND-TCD ngày 21/02/2020 của UBND tỉnh K, ngày 18/12/2020 UBND huyện P ban hành Quyết định số 6950/QĐ-UBND, về việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ.

Ngày 22/4/2021 UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1733/QĐ-UBND, về việc bổ sung hỗ trợ về đất đai cho ông Nguyễn Tiến D với tổng số tiền 278.568.800 đồng (hỗ trợ về đất đai: 278.568.800 đồng). Ông Nguyễn Tiến D đã nhận tiền hỗ trợ.

Việc UBND thành phố P không bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích 4.096,6m2 cho ông Nguyễn Tiến D là phù hợp theo Khoản 2, Điều 45 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. UBND thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tuyên xử bác toàn bộ nội dung khiếu kiện của ông Nguyễn Tiến D.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2023/HC-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định:

- Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 158, 164, 193, 194 của Luật Tố tụng hành chính;

- Căn cứ Điều 83 Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Căn cứ Điều 32 của Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

1. Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D.

- Hủy Quyết định số 1733/QĐ-UBND ngày 22 tháng 04 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai cho ông Nguyễn Tiến D.

- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công cụ theo quy định của pháp luật, cụ thể: Ban hành quyết định bổ sung hỗ trợ về đất đai đối với diện tích đất 4.096,60m2, loại đất trồng cây lâu năm, tại Khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (theo Quyết định số 4311/QĐ-UBND ngày 13/9/2013 về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đường vòng quanh đảo Đ - C) cho ông Nguyễn Tiến D (theo Quyết định số 03/2020/QĐ-UBND ngày 13/01/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh K ban hành quy định bảng giá đất giai đoạn 2020 – 2024 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã được phê duyệt Phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ về đất đai, cây trồng, vật kiến trúc, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm dư án đường vòng quanh đảo Đ – Cửa Lấp tại Quyết định số 6950/QĐ-UBND ngày 18/12/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố P), được trừ lại khoản tiền 278.568.800 đồng. (Hai trăm bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn tám trăm đồng) ông D đã nhận (theo Quyết định số 1733/QĐ-UBND ngày 22 tháng 04 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai cho ông Nguyễn Tiến D).

2. Xử bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D đối với yêu cầu ban hành quyết định bồi thường về đất đai đối với diện tích 4.096,60m2, loại đất trồng cây lâu năm tại Khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (theo Quyết định số 4311/QĐ-UBND ngày 13/9/2013 về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đường vòng quanh đảo Đ - C).

Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm trong hạn luật định ông Nguyễn Tiến D có đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm người khởi kiện vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện, các đương sự không đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.

Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của người kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường vòng quanh đảo Phú Quốc đoạn A - C tại xã D, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Ngày 19/3/2010 Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập Biên bản kiểm kê diện tích đất đai, cây trồng, vật kiến trúc đối với diện tích 4.096,6m2 của ông Nguyễn Tiến D.

Ngày 22/4/2021 UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1733/QĐ-UBND, về việc bổ sung hỗ trợ về đất đai cho ông Nguyễn Tiến D với tổng số tiền 278.568.800 đồng (hỗ trợ về đất đai: 278.568.800 đồng). Ông Nguyễn Tiến D đã nhận tiền hỗ trợ.

Xét kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 09/8/2013 Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện P ban hành Biên bản số 105/BB-HĐ, về việc thẩm định nội nghiệp với nội dung: “Những hộ bao chiếm đất sau ngày 01/7/2004, xây dựng nhà, vật kiến trúc, cây trồng sau ngày công bố quy hoạch thì không được bồi thường, hỗ trợ.”

Ngày 24/8/2013 Hội đồng Tư vấn xét duyệt đất đai thị trấn A tổ chức xét duyệt nguồn gốc đất đối với ông Nguyễn Tiến D như sau: Diện tích 4.096,6m2 đất rừng phòng hộ do bao chiếm vào năm 2005.

Ngày 09/9/2013 UBND huyện P ban hành Quyết định số 4165/QĐ-UBND, về việc điều chỉnh Quyết định số 2155/QĐ-UBND ngày 05/4/2013 của UBND huyện P phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Theo Quyết định số 4165/QĐ-UBND thì ông Nguyễn Tiến D không được bồi thường, hỗ trợ đất đai, cây trồng, vật kiến trúc đối với diện tích diện tích 4.096,6m2.

Ngày 13/9/2013 UBND huyện P ban hành Quyết định số 4311/QĐ-UBND, về việc thu hồi đất đối với ông Nguyễn Tiến D để thực hiện dự án diện tích 4.096,6m2, loại đất: Đất rừng phòng hộ. Khi thực hiện việc thu hồi 4.096,60m2 đất đối với ông D để thực hiện dự án làm Đường vòng quanh đảo đoạn A - C, ông D thuộc trường hợp không được bồi thường về đất, ông D (một trong 08 hộ dân) có khiếu nại trực tiếp lên cơ quan Trung ương. Để giải quyết dứt điểm việc khiếu nại của 8 hộ dân (trong đó có hộ ông D) sau khi đã được Thanh tra Chính phủ, Bộ T3 và UBND tỉnh K kiểm tra, rà soát, thì phần đất của ông D cũng không thuộc diện được bồi thường về đất đai, mà chỉ được hỗ trợ về đất..

Từ những viện dẫn nêu trên thấy rằng, Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá và áp dụng các quy định của Pháp luật về đất đai để cho rằng diện tích đất nêu trên bị thu hồi không thuộc trường hợp được bồi thường về đất đai, mà chỉ được hỗ trợ về đất là có căn cứ.

Ông D kháng cáo nhưng không có chứng cứ nào mới cần được xem xét tại cấp phúc thẩm, do vậy đơn kháng cáo của ông D không có căn cứ được chấp nhận.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến D phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2023/HC- ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 158, 164, 193, 194 của Luật Tố tụng hành chính;

- Căn cứ Điều 83 Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Căn cứ Điều 32 của Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

1. Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D.

- Hủy Quyết định số 1733/QĐ-UBND ngày 22 tháng 04 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai cho ông Nguyễn Tiến D.

- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công cụ theo quy định của pháp luật, cụ thể: Ban hành quyết định bổ sung hỗ trợ về đất đai đối với diện tích đất 4.096,60m2, loại đất trồng cây lâu năm, tại Khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (theo Quyết định số 4311/QĐ-UBND ngày 13/9/2013 về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đường vòng quanh đảo Đ - C) cho ông Nguyễn Tiến D (theo Quyết định số 03/2020/QĐ-UBND ngày 13/01/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh K ban hành quy định bảng giá đất giai đoạn 2020 – 2024 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã được phê duyệt Phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ về đất đai, cây trồng, vật kiến trúc, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm dư án đường vòng quanh đảo Đ – Cửa Lấp tại Quyết định số 6950/QĐ-UBND ngày 18/12/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố P), được trừ lại khoản tiền 278.568.800 đồng. (Hai trăm bảy mươi tám triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn tám trăm đồng) ông D đã nhận (theo Quyết định số 1733/QĐ-UBND ngày 22 tháng 04 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai cho ông Nguyễn Tiến D).

2. Xử bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D đối với yêu cầu ban hành quyết định bồi thường về đất đai đối với diện tích 4.096,60m2, loại đất trồng cây lâu năm tại Khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (theo Quyết định số 4311/QĐ-UBND ngày 13/9/2013 về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đường vòng quanh đảo Đ - C).

3. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến D phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo lai thu số 0009759 ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang được chuyển thành tiền án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ