- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 976/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-7-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
Bà Võ Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1904/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1997, địa chỉ cư trú: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).
2.Bị đơn: Ông Nguyễn Cát H, sinh năm: 1993, địa chỉ cư trú: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09/12/2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn: Bà T trình bày: Bà và ông H tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19/11/2015. Hạnh phúc gia đình kéo dài đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm trong cách nuôi dạy con, tính tình không hòa hợp nhưng không giải quyết được. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông H vì bà đã suy nghĩ kỷ.
Về con chung: Có 03 con chung tên là Nguyễn Cát V, sinh ngày: 05/3/2015; Nguyễn Cát T1, sinh ngày: 06/5/2017; Nguyễn Cát T2, sinh ngày: 03/8/2018. Bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Cát T1, giao ông H trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Cát V và trẻ Cát T2, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 27/4/2023, bà thay đổi yêu cầu đồng ý giao 03 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản tự khai ngày 22/5/2023, bị đơn ông H trình bày đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Bà T, ông H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ nguyên lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể như sau: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp; tống đạt cho đương sự đúng quy định tại Điều 175; tiến hành phiên hòa giải đúng quy định tại Điều 208; thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203; quyết định đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 220 và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Nguyên đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, Tòa án nhận định:
. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại số: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng: Do đương sự: Bà T, ông H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên.
. Xét yêu cầu của các đương sự: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T thấy rằng. Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số: 220 ngày 19/11/2015 của Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Cát H là hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Bà T và ông H sống chung với nhau từ năm 2015 nhưng do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không còn quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho nhau. Mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã tồn tại từ lâu, việc cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được chỉ tồn tại về mặt pháp lý, không còn tồn tại trên thực tế, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Hơn nữa, mặc dù ông H đã được Tòa án triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng hoàn toàn không có ý kiến gì đối với việc bà T yêu cầu ly hôn cho thấy ông H không còn quan tâm đến việc duy trì quan hệ vợ chồng với bà T nên khả năng đoàn tụ gia đình là không có.
Về con chung: Căn cứ vào bản sao giấy khai sinh số: 376 ngày 30/11/2015 của Ủy ban nhân dân xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; bản sao giấy khai sinh số: 578/2017 ngày 20/11/2017 và bản sao giấy khai sinh số: 461/2018 ngày 28/9/2018 cùng của Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định được bà T và ông H có 03 con chung tên là Nguyễn Cát V, sinh ngày: 05/3/2015; Nguyễn Cát T1, sinh ngày: 06/5/2017 và Nguyễn Cát T2, sinh ngày: 03/8/2018.
Bà T giao 03 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Ông H thống nhất với ý kiến của bà T về việc ông trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản trình bày nguyện vọng thì trẻ Nguyễn Cát V muốn sống với ba.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy để 03 con chung được ổn định cuộc sống cũng như đảm bảo sự chăm sóc về học hành, sức khỏe nên việc giao 03 con chung tên là Nguyễn Cát V, sinh ngày: 05/3/2015; Nguyễn Cát T1, sinh ngày: 06/5/2017 và Nguyễn Cát T2, sinh ngày: 03/8/2018 cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Do ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà T cho đến khi ông H có yêu cầu.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về án phí Tòa án: Bà T phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 150, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T.
1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Cát H.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 220 ngày 19/11/2015 của Ủy ban nhân dân Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực.
Về con chung: Ông H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung tên là Nguyễn Cát V, sinh ngày: 05/3/2015; Nguyễn Cát T1, sinh ngày: 06/5/2017 và Nguyễn Cát T2, sinh ngày: 03/8/2018. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà T cho đến khi ông H có yêu cầu.
Bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
2.Về án phí Tòa án: Bà T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số: AA/2022/0012388 ngày 22/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà T đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được tống đạt hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -Đương sự; -Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; -Chi cục thi hành án dân sự cùng cấp; -Cơ quan đã thực hiện đăng ký kết hôn; -Lưu hồ sơ vụ án. | Trần Mạnh Cường |