- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trâm-Hiếu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Bảo T đối với ông Hồ Lê Trung H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH Bản án số: 976/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07- 07-2022 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Chủ tọa phiên tòa - Thẩm phán: Ông Tô Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thành Viên.
Ông Phan Minh Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An – Kiểm sát viên quận Gò Vấp.
Ngày 07/07/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 379/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 03 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị Bảo T, sinh năm 1989, địa chỉ: đường số MS, phường Bình Hưng H, quận Bình T, Tp. Hồ Chí Minh (Vắng mặt)..
Bị đơn: Ông Hồ Lê Trung H, sinh năm 1986, địa chỉ: Lê Đức T, Phường S, quận G, Tp.Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/03/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hà Thị Bảo T trình bày:
Bà và ông Hồ Lê Trung H sống chung từ năm 2016, đăng ký kết hôn vào năm 2017, tại Ủy ban nhân dân phường 6, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống không có con chung. Hạnh phúc gia đình đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên bà xin ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Ngày 17/6/2022, bà T có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Hồ Lê Trung H mặc dù đã được tống đạt hợp lệ vẫn không đến Tòa án, do đó Tòa án không tiến hành lấy lời khai cũng như tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải được. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tung dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hà Thị Bảo T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Yêu cầu xin ly hôn của bà Hà Thị Bảo T đối với ông Hồ Lê Trung H là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Bị đơn ông H cư trú tại quận Gò Vấp do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, theo qui định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng:
Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, Nguyên đơn bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H, bà T là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào Trích lục kết hôn số 117/2022/TLKH-BS ngày 14 tháng 03 năm 2022 do Ủy ban nhân dân phường 6, quận Gò Vấp, Tp. Hồ chí Minh cấp cho ông H, bà T đã xác định quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà T là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Bà T yêu cầu được ly hôn với ông H vì tính tình không hòa hợp, tình cảm vợ chồng đã hết.
Ông H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình, nhưng ông H vẫn không đến Tòa án theo giấy triệu tập, cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của bà T. Điều này thể hiện ông H không quan tâm đến chuyện hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc cho Tòa án giải quyết.
Xét thấy hôn nhân là sự tự nguyện, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững, là sự nỗ lực phấn đấu, xây dựng của cả hai bên vợ chồng. Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Nay bà T và ông H đã không còn sống chung với nhau, bà T kiên quyết xin ly hôn cho thấy hôn nhân giữa bà T và ông H đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T yêu cầu giải quyết ly hôn với ông H là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà T khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng bà T chịu.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Bảo T đối với ông Hồ Lê Trung H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Bảo T được ly hôn với ông Hồ Lê Trung H (Giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 20 tháng 03 năm 2017 do Ủy ban nhân dân phường 6, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh cấp cho ông H, bà T không còn giá trị).
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà T khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng bà T chịu, được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0047929 ngày 24/03/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSNDQG; - CCTHADS QG; - UBND P6, quận , Tp. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu VT, HS vụ sản. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Tô Văn Mạnh |