- Tranh chấp gì? "HUỲNH VĂN BẢO - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH Bản án: 97/2023/HS-PT Ngày 21 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Long
Bà Lâm Vương Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Tú Ngọc -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh KH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 96/2023/TLPT - HS ngày 21 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo HVB do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2023/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH.
- Bị cáo có kháng cáo:
HVB- sinh năm 1990 tại KH; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: lô 146 đường số 4 - thôn TĐ- xã PĐ- tp. NT - KH; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12: Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông HVD(1967) và bà LTL(1969); Có vợ là NTKV(1995); Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 25/QĐ-XPVPHC ngày 02/5/2019, Công an tỉnh KH xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc bằng tiền dưới hình thức đánh xóc dĩa; Bắt tạm giữ từ ngày 24/9/2022 đến ngày 30/9/2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 24/9/2022, Tổ công tác đội cảnh sát điều tra Công an thành phố NT điều tra tại khu vực hẻm 20/1 CH, phường VT, thành phố NT phát hiện HVB có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu kiểm tra giấy tờ tùy thân, B tự lấy trong túi quần giao nộp cho tổ công tác một bịch nylon màu trắng có khóa hằn miệng, kích thước 5x8cm, bên trong có 5 đoạn ống hút nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu chứa chất bột nén màu trắng (ký hiệu A). B khai nhận chất bột nén màu trắng trong đoạn ống hút nhựa là ma túy “heroin”, B mua để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra xác định: khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 24/9/2022, B đi đến khu vực “Lầu 7” thuộc phường VP, thành phố NT tìm mua ma túy để sử dụng. B gặp một thanh niên (không xác định được nhân thân, lai lịch) và mua 5 tép ma túy bỏ vào trong bịch nylon màu trắng có khóa hằn miệng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B cất giấu vào trong túi quần rồi đi tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực hẻm 20/1 CH, phường VT, thành phố NT thì bị phát hiện. Tại bản kết luận giám định số 407/GĐ-GT/2022/KL-KTHS ngày 27/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KH kết luận: Chất bột nén màu trắng trong các đoạn ống hút của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2269g, loại Heroine. Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKSNT ngày 03/4/2023, VKSND thành phố NT truy tố bị cáo HVBvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 138/2023/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với HVB;
Xử phạt: Bị cáo HVB 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ vào khoảng thời gian bị tạm giữ từ ngày 24/9/2022 đến ngày 30/9/2022.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023, bị cáo HVB có đơn kháng theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo HVB kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét. Ngày 20 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh KH nhận được đơn rút kháng cáo do bà LT (mẹ ruột của bị cáo B) nộp. Tuy nhiên, chữ ký trong đơn do bà L ký thay nên xét đơn rút đơn kháng cáo không hợp lệ.
Bị cáo HVBđược Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần đến tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng bị cáo vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt bị cáo.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo HVB thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm 138/2023/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ra các tệ nạn cho xã hội. Do đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phát tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết nào mới; Mức hình phạt 01 năm 06 tháng mà cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 351; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
Xử phạt: Bị cáo HVB01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ vào thời gian bị tạm giữ từ ngày 24/9/2022 đến ngày 30/9/2022.
2. Bị cáo HVB phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ GĐKT 1- TANDTC;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại DN;
- VKSND cấp cao tại DN;
- VKSND tỉnh KH;
- Sở Tư pháp tỉnh KH;
- TAND TP. NT;
- VKSND TP. NT;
- Cơ quan điều tra - Công an TP. NT;
- Chi cục THADS TP. NT;
- Bị cáo; người TGTT;
Huỳnh Thị Xuân Oanh
- Lưu hồ sơ.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1- TANDTC; - TAND cấp cao tại DN; - VKSND cấp cao tại DN; - VKSND tỉnh KH; - Sở Tư pháp tỉnh KH; - TAND thành phố NT; - VKSND thành phố NT; - Cơ quan điều tra - Công an thành phố NT; - Chi cục THADS thành phố NT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Xuân Oanh |