vanban.org

Bản án 97/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế, TP. Huế Tuyên án 23/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Hồ Sỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Sỹ H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, là ngày 19/12/2025. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Sỹ Hậu phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Hồ Sỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HUẾ
THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2026/HS-ST
Ngày: 23/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tôn Thất Quý và bà Hoàng Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhân Tài- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Huế, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thành- Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Sỹ H; tên gọi khác: Bôn; CCCD số 046203012741; sinh ngày: 05/9/2003, tại thành phố H; nơi thường trú: Tổ dân phố M, phường H, thành phố H; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố B, phường T, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12. dân tộc: kinh; tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H1, sinh năm: 1975 và bà Trương Thị H2, sinh năm: 1973; vợ: Vũ Thị Hồng A, sinh năm: 2002; con: có 1 người con, sinh năm 2025; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, sau đó bị tạm giữ từ ngày 19/12/2025, chuyển tạm giam từ ngày 26/12/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Hương Thủy cơ sở 2, công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị H2. Sinh năm 1973. Địa chỉ: 2 B, phường T, thành phố H. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Lê Văn S. Sinh năm 2001. Địa chỉ: 7 A, phường A, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 19/12/2025, Hồ Sỹ H một mình thuê xe ôm của một người không rõ lai lịch, nhân thân đến khu vực ngã ba đường V giao với đường N, phường A, thành phố H để uống cà phê. Tại đây, H gặp một người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua 01 (một) viên ma túy dạng “kẹo” và 01 (một) gói ma túy “Ketamine” với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, H trở về nhà và mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, màu trắng, biển kiểm soát: 75AF-094.28 của bà Trương Thị H2 (sinh năm: 1973, trú tại: số B đường B, phường T, thành phố H, là mẹ ruột của H) với lý do đi chơi để nhằm mục đích tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy. Khi H đang điều khiển xe mô tô nêu trên đến khu vực giao lộ giữa đường T và đường vào khu chung cư N thuộc phường A, thành phố H thì bị Tổ tuần tra Công an phường A phát hiện, kiểm tra, bắt quả tang. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái của H 01 (một) gói giấy buộc bằng dây thun màu đen, bên trong có: 01 (một) túi nilon màu trắng, viền xanh dương, kích thước 2cm x 2cm, chứa 01 (một) viên nén màu đỏ, không rõ hình dạng và 01 (một) túi nilon màu trắng, viền xanh lá cây, kích thước 2,5cm x 2,5cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng.

Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Hồ Sỹ H với kết quả dương tính với chất ma túy. Việc cất giấu ma túy của H hoàn toàn nhằm mục đích sử dụng cá nhân, không vì mục đích khác.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) gói giấy buộc dây thun màu đen được thu giữ trong túi áo khoác phía bên trái của Hồ Sỹ H, bên trong có chứa:

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, viền xanh dương, kích thước 2cm x 2cm, chứa một viên nén màu đỏ, không rõ hình dạng.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, viền xanh lá, kích thước 2,5cm x 2,5cm, chứa các tinh thể rắn màu trắng.

- 01 (một) xe moto nhãn hiệu HONDA SH, màu trắng, biển kiểm soát: 75AF-094.28, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 991/KL-KTHS ngày 24/12/2025 của Phòng K - Công an thành phố H đã có kết luận như sau:

“1. Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định (nêu tại mục 1.1, phần II) có khối lượng là 0,4448g (không phẩy bốn bốn bốn tám gam), là ma túy, loại Ketamine.

2. Viên nén có màu đỏ gửi giám định (nêu tại mục 1.2, phần II) có khối lượng là 0,3563g (không phẩy ba năm sáu ba gam), là ma túy, loại MDMA.”

Sau khi giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đang tiếp tục tạm giữ gồm:

- 0,3448g (không phẩy ba bốn bốn tám gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng.

- 0,1563g (không phẩy một năm sáu ba gam) mẫu bột được nghiền từ viên nén có màu đỏ.

Cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong theo quy định.

* Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy hoàn lại sau khi đã giám định (cùng các vật liệu dùng để bao gói, được niêm phong theo quy định) là vật chứng của vụ án hiện đang được tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 (một) xe moto nhãn hiệu HONDA SH, màu trắng, biển kiểm soát: 75AF-094.28, đã qua sử dụng, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H trả lại cho chủ sở hữu là bà Trương Thị H2 theo Quyết định xử lý vật chứng số 335/QĐ-CSMT ngày 14/01/2026.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSKV1 ngày 25/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Huế, thành phố H truy tố bị cáo Hồ Sỹ H, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Huế giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt:

Bị cáo Hồ Sỹ H từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 19/12/2025.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) Túi niêm phong bên trong có chứa 0,3448g (không phẩy ba bốn bốn tám gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng và 0,1563g (không phẩy một năm sáu ba gam) mẫu bột được nghiền từ viên nén có màu đỏ cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Lê Thị Tuyết A1, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Đặng Hoàng S1, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K Công an T và dòng chữ “H3 mẫu vật vụ Hồ Sỹ H, bắt ngày 19/12/2025".

+ 01 (một) Túi niêm phong mã số PS3 24116971 bên trong chứa 01 (một) tờ giấy, màu trắng, nhiều lớp, không rõ kích thước, không rõ hình dạng và 01 (một) sợi dây thun, màu đen, bên ngoài có chữ ký của Điều tra viên Đặng Hoàng S1, Hồ Sỹ H và đóng dấu tròn đỏ của Công an phường A.

- Đối với 01 (một) xe moto nhãn hiệu HONDA SH, màu trắng, biển kiểm soát: 75AF-094.28, đã qua sử dụng, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H trả lại cho chủ sở hữu là bà Trương Thị H2 theo Quyết định xử lý vật chứng số 335/QĐ-CSMT ngày 14/01/2026 nên đề nghị không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo chịu theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng, bị cáo công nhận hành vi phạm tội của mình như lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát, mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 11 phút, ngày 19/12/2025, tại khu vực giao lộ giữa đường T với đường vào khu chung cư N thuộc phường A, thành phố H, Hồ Sỹ H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,8011g (không phẩy tám không một một gam) ma túy loại Ketamine và MDMA (trong đó gồm 0,4448g ma túy loại Ketamine và 0,3563g ma túy loại MDMA), nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, hành vi phạm tội và biện pháp chấp hành hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, vì thoả mãn nhu cầu bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố H. Chính vì vậy, phải đưa ra xét xử kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích, đồng thời cũng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, quá trình điều tra xác định:

- Người đàn ông tên T đã bán ma túy cho H tại khu vực ngã ba đường V với N, phường A, thành phố H: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nên chưa có đủ căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh để làm rõ, xử lý sau.

- Người đã chở H đến địa điểm mua ma túy: Quá trình điều tra H khai nhận không quen biết người đàn ông này, không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở xem xét, xử lý trong vụ án.

- Đối với bà Trương Thị H2, là mẹ của H: Trong quá trình điều tra, bà H2 khai không biết việc H mượn xe của mình để đi tìm địa điểm sử dụng ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xem xét, xử lý bà H2 trong vụ án này.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở pháp luật nên cần được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Hồ Sỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Sỹ H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, là ngày 19/12/2025.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) Túi niêm phong bên trong có chứa 0,3448g (không phẩy ba bốn bốn tám gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng và 0,1563g (không phẩy một năm sáu ba gam) mẫu bột được nghiền từ viên nén có màu đỏ cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Lê Thị Tuyết A1, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Đặng Hoàng S1, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K Công an T và dòng chữ “H3 mẫu vật vụ Hồ Sỹ H, bắt ngày 19/12/2025".

+ 01 (một) Túi niêm phong mã số PS3 24116971 bên trong chứa 01 (một) tờ giấy, màu trắng, nhiều lớp, không rõ kích thước, không rõ hình dạng và 01 (một) sợi dây thun, màu đen, bên ngoài có chữ ký của Điều tra viên Đặng Hoàng S1, Hồ Sỹ H và đóng dấu tròn đỏ của Công an phường A.

Tình trạng vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H và Phòng thi hành dân sự Khu vực 1 - Huế ngày 27/3/2026.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Sỹ H phải chịu số tiền 200.000 đồng.

Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ