vanban.org

Bản án 97/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy Ngọc. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy N được ly hôn với anh Hoàng Minh P Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HON (NGUYEN THI THUY N - HOANG MINH P)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 21-7-2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thu Phương và ông Hoàng Thiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tường Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 262/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2026, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy N – sinh năm 1995

Địa chỉ: Khu phố 8 (Khu phố N), phường T, thành phố Đ.

- Bị đơn: Anh Hoàng Minh Phong – sinh năm 1992

Địa chỉ: Số nhà 50, Tổ 3, Khu phố 8 (Khu phố N), phường T, thành phố Đ.

(Các đương sự có đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh P kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/04/2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Anh chị chung sống đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm và không hòa hợp, dẫn đến cãi nhau. Từ đầu năm 2024, anh chị không còn sống chung với nhau đến nay. Chị nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn đối với anh P

- Về nuôi con: Anh chị có 02 con chung tên Hoàng Nguyễn Minh Đ – sinh ngày 01/9/2016 và Hoàng Nguyễn Minh K – sinh ngày 08/8/2020. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản: Chị N trình bày chị và anh P không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn anh Hoàng Minh P trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Vợ chồng chung sống có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hòa hợp nên có xảy ra cãi nhau, không chung sống từ đầu năm 2026 và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Chị N yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý do vẫn còn yêu thương chị, nhưng đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Về nuôi con: Anh chị có 02 con chung tên Hoàng Nguyễn Minh Đ – sinh ngày 01/9/2016 và Hoàng Nguyễn Minh K – sinh ngày 08/8/2020. Trường hợp ly hôn, anh đồng ý giao các con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh không cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản: Anh chị không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Các đương sự có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N. Về hôn nhân: Cho chị N được ly hôn với anh P. Về con chung: Giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng các con, tạm thời anh P chưa phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản: Các đương sự trình bày không có tài sản chung và nợ chung, nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Bị đơn anh Hoàng Minh P có nơi cư trú, sinh sống tại phường T, thành phố Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

- Chị Nguyễn Thi Thúy N khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh P, tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách đương sự chị N là nguyên đơn và anh P là bị đơn, quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các đương sự có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh P được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 15/04/2015; như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Anh chị trình bày trong quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn, không thể tự hòa giải đoàn tụ nên đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành giải thích quy định của pháp luật, vận động, hòa giải nhưng chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự có đơn vắng mặt, nên hòa giải đoàn tụ không thành. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án về tình trạng hôn nhân tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác cũng thể hiện phù hợp với lời khai của đương sự.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, chị N và anh P đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.

- Về nuôi con: Anh chị có 02 con chung tên Hoàng Nguyễn Minh Đ – sinh ngày 01/9/2016 và Hoàng Nguyễn Minh K – sinh ngày 08/8/2020. Chị N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con và anh P cũng đồng ý. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Từ sau khi xảy ra mâu thuẫn, các con chung do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng, bản thân chị N có trách nhiệm chăm sóc và nghề nghiệp thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi dưỡng con chung; đồng thời cháu Đ có nguyện vọng sống cùng chị N. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.

- Về tài sản: Các đương sự trình bày không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy Ngọc.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy N được ly hôn với anh Hoàng Minh P

- Về nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thi Thúy N trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là Hoàng Nguyễn Minh Đ – sinh ngày 01/9/2016 và Hoàng Nguyễn Minh K – sinh ngày 08/8/2020, tạm thời anh P chưa phải cấp dưỡng cho con.

Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản: Các đương sự trình bày không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Ngọc đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013472 ngày 08/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đ nay được chuyển thành án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 Luật thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự năm 2025.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ