vanban.org

Bản án 97/2025/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 24/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh Q 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2024. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HSST
Ngày: 24/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN H

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hiển V

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Xuân P

Bà Phạm Thị Bích H

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng L - Thư ký Tòa án nhân dân quận H

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy T - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận H, thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 61/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Mạnh Q; Sinh năm: 1984; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: 92 tổ 6B (địa chỉ mới số 75 T, tổ 1), phường T, quận H, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên cha: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1958; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1960; Vợ: Chu Minh N (đã ly hôn) và 02 con; Danh chỉ bản số 728 lập ngày 01/01/2025 tại Công an quận H, thành phố H.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 30/9/2029, Công an quận H xử phạt hành chính hành vi cố ý gây thương tích (đã hết thời hiệu).

- Ngày 15/4/2014, Tòa án nhân dân quận H xử phạt 24 tháng tù về Tội cố ý gây thương tích (Bản án số 85/2014/HSST - đã được xóa án tích)

Tạm giữ: 27/12/2024; Tạm giam: 02/01/2025.

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Trần Lê *; Sinh năm: 1986; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: 9B N, phường Đ, quận H, thành phố H; Nơi ở: 27 ngõ 108 L, phường B, quận H, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Họ tên cha: Trần Lê N, sinh năm 1958; Họ tên mẹ: Đỗ Thị B, sinh năm 1960; Vợ là Lê Thị Phương N và 05 con; Danh chỉ bản số 731 lập ngày 01/01/2025 tại Công an quận H, thành phố H.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 07/7/2004, Tòa án nhân dân quận H xử đưa vào trường giáo dưỡng 12 tháng (đã hết thời hiệu)

- Ngày 10/10/2014, Công an quận H xử phạt hành chính hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản (đã hết thời hiệu)

Bắt quả tang: 26/12/2024; Tạm giữ: 27/12/2024; Tạm giam: 02/01/2025

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 26/12/2024, Tổ công tác Công an phường T, quận H, thành phố H làm nhiệm vụ tại khu vực trước số 65 T, phường T, quận H, thành phố H phát hiện Trần Lê * có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Lê * tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 (một) túi nilon trắng kích thước khoảng (2,5x1,5)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng từ trong lòng bàn tay trái của mình. Tại chỗ, Lê * khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy “Đá” Lê * mua của Hoàng Mạnh Q tại nhà Q ở số 75 T, tổ 1, phường T, quận H, thành phố H với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Tổ công tác tiến hành thu giữ đồ vật, đưa Trần Lê * về trụ sở để làm rõ sự việc. Ngoài ra không còn thu giữ gì khác của Trần Lê *.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở Hoàng Mạnh Q, thu giữ:

- 01 bình ục bằng thủy tinh màu xanh, cao khoảng 17cm, phần đáy có đường kính khoảng 06cm, có gắn 01 coóng thủy tinh trong suốt và 01 ống hút bằng nhựa;

- Số tiền 500.000 đồng.

- 04 túi nilong trong suốt kích thước mỗi túi khoảng 2,5x2,5cm, đều có dính tinh thể màu trắng;

Tại Kết luận giám định số 202 ngày 05/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình Công an TP Hà Nội cho kết quả:

“- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (thu giữ của Trần Lê *) là ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,390 gam.

- 04 túi nilong và 01 bộ tẩu hút tự tạo (thu giữ của Hoàng Mạnh Q) đều có dính ma túy Methamphetamine”

Tại Cơ quan công an, Hoàng Mạnh Q khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/12/2024, Trần Lê * đến nhà Q tại Số 92 tổ 6b (địa chỉ mới 75 Trần Khát Chân, tổ 1), phường T, quận H, thành phố H hỏi mua 400.000 đồng tiền ma túy của Q. Q lấy túi ma túy đá trên kệ ti vi gần cửa phòng bên trái đưa cho Lê *, Lê * đưa cho Q lại 500.000 đồng, trong đó có 400.000 đồng tiền mua ma túy và 100.000 đồng tiền Lê * nợ Q trước đó. Lê * cầm túi ma túy và đi về, đi đâu Q không biết. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng công an đến kiểm tra hành chính, quá trình kiểm tra Q tự nguyện giao nộp cho công an 01 bình ục có gắn 01 coóng thủy tinh cùng một ống hút tự chế Q dùng để sử dụng ma túy đá, 04 túi nilong kích thước 2,5x2,5 cm bên trong còn dính tinh thể màu trắng và số tiền 500.000 đồng. Q khai nhận tinh thể màu trắng dính trong các túi nilong và coóng thủy tinh đều là ma túy đá Q sử dụng còn dính lại, số tiền 500.000 đồng là tiền Lê * đưa cho Q để mua 01 gói ma túy và trả nợ Q. Số ma túy Q bán cho Lê * là Q mua của một người nam thanh niên không quen biết tại khu vực ngã ba N - M, phường T, H, H vào khoảng 20 giờ ngày 19/12/2024 với giá 1.500.000 đồng 5 túi ma túy, mỗi túi giá 300.000 đồng. Q đã sử dụng hết 04 túi ma túy, còn 01 túi ma túy chưa dùng đến Q đã dùng băng dính đen quấn lại để cất đi khi nào có nhu cầu thì lại lấy ra dùng tiếp, khi L hỏi mua ma túy Q đã bán lại. Q đã hưởng lợi 100.000 đồng tiền bán ma túy thành công cho Lê *. Đây là lần đầu tiên Q bán ma túy cho Lê *, ngoài ra Q không bán ma túy cho ai khác.

Tại Cơ quan công an Trần Lê * khai nhận sự việc phù hợp nội dung trên. Lời khai của Hoàng Mạnh Q và Trần Lê * phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong vụ án.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Q, Q khai nhận đây là lần đầu tiên mua ma túy của người này, không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho Cơ quan điều tra. Dẫn giải Q xác định được vị trí mua ma túy là tại khu vực ngã ba N - M, phường T, H, Hà Nội, tuy nhiên không xác định được người thanh niên bán ma túy cho Q. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của Hoàng Mạnh Q bao gồm 400.000 đồng là tiền Q bán ma túy cho Lê *, 100.000 đồng là tiền Lê * trả nợ cá nhân cho Q từ trước không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSHBT-HS ngày 06/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố Hoàng Mạnh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Trần Lê * về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Mạnh Q, Trần Lê * khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh trên là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh Q mức hình phạt từ 30 tháng đến 36 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Lê * mức hình phạt từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy, 01 bình ục bằng thủy tinh màu xanh có gắn 01 cóng thủy tinh trong suốt và 01 ống hút bằng nhựa, 04 túi nilon trong suốt có dính tinh thể màu trắng. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 400.000 đồng, trả lại bị cáo Q 100.000 đồng. Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

. Về tội danh:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/12/2024 tại 75 T, tổ 1 mới, phường T, quận H, thành phố H, Hoàng Mạnh Q bán cho Trần Lê * 0,390 gam ma túy loại Methamphetamine với giá 400.000 đồng, thu lời 100.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày tại khu vực trước số 65 T, phường T, quận H, thành phố H, Trần Lê * đang tàng trữ số ma túy trên để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường T bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Hoàng Mạnh Q đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Lê * đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

. Trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán ma tuý và tàng trữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó cần có mức hình phạt tù giam cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo Hoàng Mạnh Q có 01 tiền án và 01 tiền sự; nhân thân bị cáo Trần Lê * có 02 tiền sự. Tiền án của bị cáo Q đã được xóa, các tiền sự của bị cáo Lê * và của bị cáo Q đều đã hết thời hiệu. Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải, do đó có thể xem xét cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Xử lý tang vật:

- Ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu để tiêu hủy.

- 01 bình ục bằng thủy tinh màu xanh có gắn 01 coóng thủy tinh trong suốt và 01 ống hút bằng nhựa, 04 túi nilon trong suốt có dính tinh thể màu trắng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy

- Số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Mạnh Q, trong đó 400.000 đồng thu lời bất chính từ việc mua bán ma túy tịch thu sung công quỹ Nhà nước, số tiền 100.000 đồng còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Q.

Án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ:

+ Khoản 1 Điều 251 (đối với bị cáo Q); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo Lê *); Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

+ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, 135, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

2. Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh Q 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2024.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Lê * 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2024.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì còn nguyên vẹn niêm phong, ngoài có chữ ký của giám định viên và Trần Lê *, bên trong có 01 túi nilon trong suốt kích thước khoảng (2,5x1,5)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng bên ngoài có dính băng màu đen khối lượng 0,390 gam là ma túy loại Methamphetamine;

+ 01 bình ục bằng thủy tinh màu xanh cao khoảng 17cm, phần đáy đường kính khoảng 06cm có gắn 01 cóng thủy tinh trong suốt và 01 ống hút bằng nhựa;

+ 01 bì còn nguyên vẹn niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Hoàng Mạnh Q, bên trong có 04 túi nilon trong suốt kích thước mỗi túi khoảng (2,5x2,5)cm đều có dính tinh thể màu trắng

(Tang vật hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng số TV: 112/25 ngày 20/02/2025).

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Mạnh Q 100.000 (Một trăm nghìn) đồng.

(Tiền đang được tạm giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận H theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 27/02/2025)

4. Về án phí, quyền kháng cáo:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ