- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - Tàng trữ TP chất ma tuý. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 144/2021/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2025/HS-ST Ngày: 22 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quốc Định và bà Lê Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Ông h m Thành Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân khu vực 6 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, t i trụ sở Toà án nhân khu vực 6 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 (Sau đây viết tắt là: 05/12/2025) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HS ngày 11/12/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1987 t i Ninh Bình; đăng ký thường trú: Thôn Đ, phường M, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện nay: Tổ 1, phường Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị K; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị t m giữ từ 06/9/2025 và chuyển t m giam từ ngày 11/9/2025 đến nay; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Ông Trần Văn D; vắng mặt; bà Trần Thị K; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ ngày 06/9/2025, tổ công tác của Công an xã B, tỉnh Ninh Bình tiến hành tuần tra, kiểm soát t i khu vực nghĩa trang thôn 6, xã B, tỉnh Ninh Bình thì phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn N đang có hành vi cất giữ trái phép trong lòng tay trái một túi nilon màu trắng, kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng d ng cục. T i chỗ, Nguyễn Văn N khai nhận đó là ma tuý, lo i Heroine mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người ph m tội quả tang và thu giữ, niêm phong 01 gói giấy b c trong phong bì ký hiệu QT01.
* Khám xét khẩn cấp nơi ở hiện nay của Nguyễn Văn N: Không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
* T i phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, lập t i Công an xã B, tỉnh Ninh Bình ngày 06/9/2025, kết luận: Nguyễn Văn N dương tính với Morphine/Heroine, Mathemphatamine.
* T i Bản kết luận giám định số 904/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của hòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,224g (không phảy hai trăm hai bốn gam). Loại Heroine (Heroin)”.
* Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ Nguyễn Văn N khai: Khoảng 17 giờ ngày 06/9/2025, Nguyễn Văn N đi nhờ xe môtô của một người không quen biết đến khu vực nghĩa trang xã B, tỉnh Ninh Bình với mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi N gặp và mua của một người đàn ông không quen biết ngay cổng nghĩa trang 01 gói ma tuý với số tiền 400.000 đồng rồi cầm trên tay trái, đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
* Về vật chứng: Số Heroine do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 904/KL-KTHS ngày 11/9/2025, ghi “Mẫu vật hoàntrảQT01”được chuyển đến Phòng Thi hành án dânsự khu vực6- Ninh Bình.
* Quá trình điều tra Nguyễn Văn N đã khai rõ toàn bộ hành vi đã thực hiện.
T i bản cáo tr ng số 51/CT-VKS-MT ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình luận tội: Giữ nguyên quan điểm một phần truy tố đối với bị cáo; rút một phần truy tố không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử ph t Nguyễn Văn N từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án.
- Bị cáo Nguyễn Văn N đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân vào chiều ngày 06/9/2025 đúng như nội dung bản cáo tr ng đã mô tả và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụng khác, bản thân đã nhận thức rõ sai ph m, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình ph t.
- Người làm chứng (bà Trần Thị K) trình bầy mối quan hệ giữa bà và bị cáo, đồng thời cho biết những tình tiết mà bà đã biết liên quan đến vụ án, đúng như lời khai của bà t i cơ quan điều tra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu n i gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đo n tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền h n và trách nhiệm được giao theo quy định của pháp luật.
T i phiên toà Đ i diện Viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xác định rõ bị cáo ph m tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, bản thân không có thu nhập, không có tài sản riêng, nên đảm bảo căn cứ chấp nhận.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn N t i phiên tòa phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh t i biên bản bắt người ph m tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đo n điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 06/9/2025, t i khu vực nghĩa trang thôn 6, xã B, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Văn N đang có hành vi cất giữ trái phép trong lòng bàn tay trái 0,224 gam Heroine với mục đích để sử dụng cá nhân thì bị tổ công tác Công an xã B, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn N đã ph m vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đối với bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm ph m đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự t i địa phương mà còn gây tổn h i đến chính sức khỏe cũng như tương lai của bị cáo. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành nhưng l i thiếu ý thức tu dưỡng, phấn đấu, luôn thể hiện lối sống tự do, buông thả, nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến ph m tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình ph t tù đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải t o bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như đảm bảotínhrănđevàphòngngừa tội ph m chungtrong cộngđồnghiệnnay.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội, phần nào thể hiện sự ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình ph t cho bị cáo, t o điều kiện cho bị cáo yên tâm cải t o, sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thấy được tính nhân đ o của pháp luật đối với người ph m tội.
Xét thấy cần tiếp tục t m giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự, nên Quyết định t m giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích ph m tội, cũng như tình hình kinh tế của bị cáo, nên không cần thiết phải áp dụng hình ph t bổ sung (là ph t tiền) đối với bị cáo theo quy định t i Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm của Đ i diện Viện kiểm sát t i phiên toà là phù hợp pháp luật.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói, hòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình hoàn trả sau giám định, đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu và tiêu huỷ.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Văn N, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, cũng như không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, sau khi bị bắt giữ đã xác định N có kết quả dương tính với chất ma tuý. Căn cứ vào nhân thân cũng như các quy định của pháp luật, Công an xã B, tỉnh Ninh Bình đã xử ph t hành chính đối với N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021củaChính hủlàphùhợpphápluật. DođóHĐXX khôngđề cập.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tuyênbố: Bị cáo Nguyễn Văn N ph m tội“Tàngtrữtráiphépchất matuý”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 06/9/2025.
[2] Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 904/KTHS, mặt sau có dấu của hòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 04/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tình Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình).
[3] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối Cao (Vụ GĐKT I); - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Tr i t m giam số 2 - CA tỉnh Ninh Bình; - Phòng HSNV- CA tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 6 - tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THA hình sự - CA tỉnh Ninh Bình; - THADS tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đinh Văn An |