- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức C phạm tội "Đánh bạc" và "Tổ chức đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2025/HS-PT Ngày 04-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;
Ông Nguyễn Hữu Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 94/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Đỗ Đức C, do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Đức C, sinh năm 1960 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đức Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); bị cáo có vợ (đã ly hôn) và có 04 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 10/5/2024 cho đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn N, Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo; 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 04/01/2024, tại nhà của Vũ Văn T1, Công an xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện nội dung tin nhắn trong điện thoại của T1 có mua, bán số đề thắng thua bằng tiền với Đỗ Đức C. Hình thức và tỷ lệ thắng thua như sau: Đối với đài xổ số M, Miền T2 có 18 lô, tỷ lệ thắng thua được tính 1/70 nghĩa là nếu người chơi đề đánh bao lô 02 con số với số tiền 1.000 đồng phải trả số tiền 18.000 đồng, nếu thắng sẽ được số tiền 70.000 đồng/01 lô, bao lô 03 con với số tiền 1.000 đồng phải trả số tiền 17.000 đồng, đánh số đá 02 cặp số tiền 1.000 đồng phải trả số tiền 36.000 đồng (18 lô x 2 vòng đá), đánh số đá 03 cặp số tiền 1.000 đồng thì phải trả số tiền 108.000 đồng (17 lô x 6 vòng đá), nếu thắng được số tiền 600.000 đồng/01 lô; đánh đầu đuôi với số tiền 1.000 đồng phải trả số tiền 2.000 đồng nếu thắng được số tiền 70.000 đồng/1.000 đồng, đánh xỉu chủ với số tiền 1.000 đồng, phải trả số tiền 2.000 đồng, nếu thắng được số tiền 600.000 đồng. Đối với đài Miền B, nếu đánh bao lô thì tỷ lệ thắng thua được tính 1/70, nếu người chơi đề đánh bao lô 02 con số với số tiền 1.000 đồng phải trả số tiền 27.000 đồng, nếu thắng sẽ được số tiền 70.000 đồng/01 lô, bao lô 03 con với số tiền 1.000 đồng phải trả số tiền 23.000 đồng, nếu thắng sẽ được số tiền 70.000 đồng/01 lô, số đá 02 cặp số, thì 1.000 đồng phải trả số tiền 54.000 đồng (27 x1.000 đồng x 02 vòng), nếu thắng thì tỷ lệ là 1.000 đồng/600.000 đồng, nếu đánh số đá 03 cặp số thì 1.000 đồng phải trả số tiền 138.000 đồng (1.000 đồng x 23 lô x 06 vòng), nếu thắng thì tỷ lệ là 1.000 đồng/600.000 đồng. Nếu đánh đầu, đuôi thì 1000 đồng phải trả 5.000 đồng (Miền B có 04 lô số đầu và 01 lô số đuôi), nếu thắng được số tiền với tỷ lệ 1.000 đồng/70.000 đồng. Căn cứ vào kết quả sổ xố chiều cùng ngày để xác định thắng thua, đài M thì xổ số vào lúc 16 giờ 15 phút đến 16 giờ 30 phút, đài M thì xổ số vào lúc 17 giờ 15 phút đến 17 giờ 30 phút, đài M thì xổ số vào lúc 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút.
Qua làm việc, Đỗ Đức C khai nhận vào ngày 04/01/2024, C đã sử dụng điện thoại gắn sim số 0975.615.323 để (ghi) bán số đề các đài M (xổ số Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Thuận, Vũng Tàu, Đồng Nai), đài M (xổ số tỉnh Bình Định) và đài M1 (xổ số T) với T1 và một số đối tượng khác, như sau:
1. Bán số đề cho Vũ Văn T1 các số đề và số tiền như sau:
- Đài M (Tây Ninh, An Giang, Bình Thuận):
+ Số 987 bao lô 20.000 đồng x 17 lô thành tiền 340.000 đồng
+ Số 879 bao lô 10.000đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng
+ Số 87 bao lô 30.000 đồng x 18 lô thành tiền 540.000 đồng
+ Số 79 bao lô 30.000 đồng x 18 lô với số tiền 540.000 đồng
+ Số 67 bao lô 03 đài 10.000 đồng x 18 lô với số tiền 540.000 đồng.
Số tiền C và T1 sử dụng đánh bạc là 2.130.000 đồng, nhưng ông C chỉ tính số tiền thực tế là 1.800.000 đồng. Kết quả xổ số cùng ngày T1 không trúng nên T1 thua C số tiền trên và T1 đã thanh toán cho C số tiền 1.800.000 đồng.
- Đài M (xổ số T):
+ Số 587 bao lô 10.000 đồng x 23 lô thành tiền 230.000 đồng.
+ Số 388 bao lô 10.000 đồng x 23 lô thành tiền 230.000 đồng.
+ Số 87 bao lô 30.000 đồng x 27 lô thành tiền 810.000 đồng.
+ Số 88 bao lô 30.000 đồng x 27 lô thành tiền 810.000 đồng.
Số tiền C và T1 sử dụng đánh bạc là 2.080.000 đồng, nhưng C chỉ tính số tiền thực tế là 1.760.000 đồng. Kết quả xổ số cùng ngày T1 không trúng nên T1 thua C số tên trên và T1 đã thanh toán cho C số tiền 1.760.000 đồng.
2. Bán số đề cho Hà Văn T3 các số đề và số tiền như sau:
- Đài M (đài xổ số tỉnh An Giang và tỉnh Bình Thuận)
+ Số 78 bao lô 5.000 đồng x 18 lô x 2 thành tiền 180.000 đồng.
Số tiền C và T3 sử dụng đánh bạc là 180.000 đồng, nhưng C chỉ tính số tiền 150.000 đồng. Kết quả xổ số cùng ngày T3 trúng số 78 bao lô 5.000 đồng, đài xổ số tỉnh Bình Thuận nên thắng được số tiền 350.000 đồng. Vậy tổng số tiền C bán số đề cho T3 là 530.000 đồng (gồm tiền bán số đề 180.000 đồng + số tiền trúng số đề 350.000 đồng). Do C bị Công an phát hiện hành vi đánh bạc nên C và T3 chưa thanh toán tiền cho nhau.
- Đài M (xổ số tỉnh Bình Định):
+ Số 281 bao lô 2.000 đồng x 17 lô thành tiền 34.000 đồng.
+ Số 81 bao lô 2.000 đồng x 18 lô thành tiền 36.000 đồng.
+ Số 81-31 đá 1.000 đồng x 18 lô thành tiền 36.000 đồng.
Số tiền C và T3 sử dụng đánh bạc là 106.000 đồng, nhưng C chỉ tính số tiền 90.000 đồng. Kết quả xổ số cùng ngày T3 không trúng số đề nên thua C số tiền trên. Do C bị Công an phát hiện hành vi đánh bạc nên C và T3 chưa thanh toán tiền cho nhau.
- Đài M (xổ số T):
+ Số 81-90 đá 1.000 đồng x 27 lô thành tiền 54.000 đồng.
+ Số 81 bao lô 2.000 đồng x 27 lô thành tiền 54.000 đồng.
+ Số 90 bao lô 2.000 đồng x 27 lô thành tiền 54.000 đồng.
Số tiền C và T3 sử dụng đánh bạc là 162.000 đồng, nhưng C chỉ tính số tiền 132.000 đồng. Kết quả xổ số cùng ngày T3 không trúng số đề nên T3 thua C số tiền trên. Do C bị Công an phát hiện hành vi đánh bạc nên C và T3 chưa thanh toán tiền cho nhau.
3. Bán số đề cho Đỗ Văn H các số đề và số tiền như sau:
- Đài xổ số M (Xổ số tỉnh Tây Ninh):
+ Số 969 bao lô 10.000 đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng.
+ Số 69 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
+ Số 19 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
Số tiền C và H sử dụng đánh bạc là 530.000 đồng nhưng C chỉ tính số tiền thực tế là 450.000 đồng. Kết quả xổ số cùng ngày, H đánh trúng con số 19 bao lô 10.000 đồng nên thắng được số tiền 700.000 đồng. Vậy tổng số tiền C và H sử dụng đánh bạc là 1.230.000 đồng (số tiền 530.000 đồng tiền bán số đề và 700.000 đồng tiền trúng số đề). H đã thanh toán tiền cho C.
4. Bán số đề cho Mai Văn T4 đài xổ số tỉnh Tây Ninh các số đề và số tiền như sau:
+ Số 737 bao lô 7.000 đồng x 17 lô thành tiền 119.000 đồng.
+ Số 737 xỉu chủ 50.000 đồng thành tiền 100.000 đồng.
Số tiền C và T4 sử dụng đánh bạc là 219.000 đồng nhưng C chỉ tính số tiền thực tế là 188.000 đồng, kết quả xổ số T4 không trúng nên T4 thua C số tiền trên. Do C bị Công an phát hiện hành vi đánh bạc nên C và T4 chưa thanh toán tiền cho nhau.
Vậy, ngày 04/01/2024, tổng số tiền C bán số đề cho Vũ Văn T1, Hà Văn T3, Đỗ Văn H và Mai Văn T4: đài xổ số M là 4.109.000 đồng, gồm tiền bán số đề là 3.059.000 đồng (nhưng chỉ tính số tiền 2.588.000 đồng) và tiền trúng số đề là 1.050.000 đồng; đài xổ số Miền T2 là 106.000 đồng, nhưng chỉ tính 90.000 đồng; đài xổ số Miền Bắc là 2.242.000 đồng nhưng chỉ tính 1.892.000 đồng.
* Ngoài ra, C còn bán số đề cho bị cáo T1, đối tượng H và T5 vào các ngày 30/12/2023, 31/12/2023, 01/01/2024, 02/01/2024, 03/01/2024 cụ thể như sau:
1. C bán số đề cho Vũ Văn T1 ngày 02/01/2024 và ngày 03/01/2024 với các số đề và số tiền sau:
* Ngày 02/01/2024
- Đài xổ số M (xổ số tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu):
+ Số 516 bao lô 10.000 đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng.
+ Số 85 bao lô 50.000 đồng x 18 lô thành tiền 900.000 đồng.
+ Số 16 bao lô 30.000 đồng x 18 lô thành tiền 540.000 đồng.
+ Số 49 bao lô 30.000 đồng x 18 lô thành tiền 540.000 đồng.
+ Số 779 bao lô 10.000 đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng.
+ Số 79 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
Số tiền C và T1 sử dụng đánh bạc là 2.500.000 đồng, nhưng bị cáo C chỉ thu số tiền thực tế là 2.100.000 đồng. Kết quả xổ số cuối ngày T1 không trúng nên T1 đã thua và chi trả số tiền trên cho C.
- Đài M (xổ số T):
+ Số 937 bao lô 10.000 đồng x 23 lô thành tiền 230.000 đồng.
+ Số 516 bao lô 10.000 đồng x 23 lô thành tiền 230.000 đồng.
+ Số 37 bao lô 30.000 đồng x 27 lô thành tiền 810.000 đồng.
+ Số 85 bao lô 30.000 đồng x 27 lô thành tiền 810.000 đồng.
+ Số 16 bao lô 30.000 đồng x 27 lô thành tiền 810.000 đồng.
+ Số 321 bao lô 10.000 đồng x 23 lô thành tiền 230.000 đồng.
+ Số 21 bao lô 30.000 đồng x 27 lô thành tiền 810.000 đồng.
Kết quả xổ số cuối ngày T1 trúng số 21 đánh bao lô với tiền thắng 2.160.000 đồng (T1 và C thoả thuận tỷ lệ thắng thua là 72.000 đồng/1.000 đồng/1 lô). Số tiền C và T1 sử dụng đánh bạc là 6.090.000 đồng, gồm tiền bán số đề là 3.930.000 đồng (nhưng chỉ tính tiền thực tế là 3.300.000 đồng) và số tiền trúng số đề là 2.160.000.
* Ngày 03/01/2024:
- Đài M (xổ số tỉnh Đồng Nai):
+ Số 737 bao lô 10.000 đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng.
+ Số 322 bao lô 10.000 đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng.
+ Số 37 bao lô 30.000 đồng x 18 lô thành tiền 540.000 đồng.
+ Số 22 bao lô 30.000 đồng x 18 lô thành tiền 540.000 đồng.
Số tiền C và T1 sử dụng số tiền đánh bạc là 1.420.000 đồng, nhưng số tiền C thu thực tế là 1.200.000 đồng. Kết quả xổ số cuối ngày T1 không trúng số đề nên T1 thua và thanh toán cho C số tiền trên.
- Đài M (xổ số T):
+ Số 22, 37 đá 10.000 đồng x 27 lô thành tiền 540.000 đồng.
+ Số 22 bao lô 30.000 đồng x 27 lô thành tiền 810.000 đồng.
+ Số 37 bao lô 30.000 đồng x 27 lô thành tiền 810.000 đồng.
Số tiền C và T1 sử dụng đánh bạc là 2.160.000 đồng, nhưng số tiền C thu thực tế là 1.760.000 đồng. Kết quả xổ số cuối ngày T1 không trúng số đề nên Tân thua và đã thanh toán cho C số tiền trên.
2. C bán số đề cho Đỗ Văn H các ngày 30-31/12/2023 và 01/01/2024 các số đề và số tiền sau:
* Ngày 30/12/2023:
- Đài M (xổ số Thành phố Hồ Chí Minh):
+ Số 262 bao lô 10.000 đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng.
+ Số 62 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
+ Số 02 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
+ Số 27 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
Số tiền H và C sử dụng đánh bạc là 710.000 đồng, nhưng thực tế số tiền C thu là 570.000 đồng. Kết quả xổ số H trúng số 27 bao lô 10.000 đồng nên thắng số tiền 700.000 đồng. Vậy tổng số tiền H và C đánh bạc là 1.410.000 đồng, gồm 710.000 đồng tiền bán số đề và 700.000 đồng tiền trúng số đề. H đã thanh toán số tiền cho C.
* Ngày 31/12/2023:
- Đài M (xổ số tỉnh Tiền Giang):
+ Số 789 bao lô 10.000 đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng.
+ Số 99 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
+ Số 79 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
Số tiền H và C đánh bạc là 530.000 đồng, nhưng thực tế số tiền C thu là 450.000 đồng. Kết quả xổ số H không trúng số đề nên H thua C số tiền trên. H đã thanh toán số tiền cho C.
* Ngày 01/01/2024:
- Đài M (xổ số Thành phố Hồ Chí Minh):
+ Số 778 bao lô 10.000 đồng x 17 lô thành tiền 170.000 đồng.
+ Số 78 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
+ Số 93 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
Số tiền H và C đánh bạc là 530.000 đồng, nhưng thực tế số tiền C thu là 450.000 đồng. Kết quả xổ số H trúng số 78 với số tiền 700.000 đồng. Vậy tổng số tiền H và C đánh bạc là 1.230.000 (số tiền bán số đề là 530.000 đồng và số tiền trúng số đề là 700.000 đồng). H đã thanh toán số tiền cho C.
3. C có bán số đề cho Nguyễn Văn T5 các ngày 01/01/2024 và 03/01/2024 các số đề và số tiền sau:
* Ngày 01/01/2024:
- Đài M (xổ số Thành phố Hồ Chí Minh):
+ Số 37, 73, 46 đá 2.500 đồng x 18 lô thành tiền 270.000 đồng.
+ Số 73, 64 đá 2.500 đồng x 18 lô thành tiền 90.000 đồng.
+ Số 90 bao lô 20.000 đồng x 18 lô thành tiền 360.000 đồng.
Số tiền T5 và C đánh bạc là 720.000 đồng, nhưng thực tế C và T5 chỉ tính số tiền là 560.000 đồng. Kết quả xổ số T5 không trúng nên T5 thua C số tiền trên, T5 chưa thanh toán tiền cho bị cáo C.
* Ngày 03/01/2024 đài M (xổ số tỉnh Đồng Nai):
+ Số 27, 23, 85 đá 3.000 đồng x 18 lô thành tiền 324.000 đồng.
+ Số 27 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
+ Số 23 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
+ Số 85 bao lô 10.000 đồng x 18 lô thành tiền 180.000 đồng.
+ Số 27 bao lô 25.000 đồng x 18 lô thành tiền 450.000 đồng.
+ Số 23 bao lô 25.000 đồng x 18 lô thành tiền 450.000 đồng.
Số tiền T5 và C đánh bạc là 1.764.000 đồng, nhưng thực tế C và T5 chỉ tính số tiền là 1.372.000 đồng. Kết quả xổ số T5 không trúng số đề nên T5 thua C số tiền trên. T5 chưa thanh toán tiền cho bị cáo C.
Vậy, tổng số tiền C đánh bạc với H: Ngày 30/12/2023 là 1.410.000 đồng (gồm 710.000 đồng tiền bán số đề và 700.000 đồng tiền trúng số đề); ngày 31/12/2023 là 530.000 đồng. Số tiền C với H và T5 đánh bạc ngày 01/01/2024 là 1.950.000 đồng (tiền bán số đề là 1.250.000 đồng và 700.000 đồng tiền trúng số đề). Số tiền C và T1 đánh bạc vào ngày 02/01/2024 là 2.500.000 đồng (đài xổ số M) và 6.090.000 đồng (đài xổ số M1). Số tiền C và T1, T5 đánh bạc ngày 03/01/2024 là 3.184.000 đồng (đài xổ số M) và 2.160.000 đồng (đài xổ số M1).
* Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Đỗ Đức C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S màu xanh số IMEI1: 866314059939858, IMEI2: 866314059939841.
- Thu giữ của Đỗ Đức C số tiền 3.700.000 đồng.
- Thu giữ của Vũ Văn T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh, số IMEI1: 352884795307579, IMEI2: 353649455307576.
- Số tiền thu lợi bất chính của Vũ Văn T1 là 2.160.000 đồng (tiền Tân trúng số đề).
- Thu giữ của Hà Văn T3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO MP3PAYER V7.2 màu xanh đen và số tiền 330.000 đồng của Hà Văn T3.
- Thu giữ của Mai Văn T4 số tiền 188.000 đồng; số tiền 1.932.000 đồng của Nguyễn Văn T5; số tiền 450.000 đồng của Đỗ Văn H.
Tại Cáo trạng số 107/CT-VKSPG ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đã truy tố các bị cáo Đỗ Đức C, Vũ Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, đã quyết định:
1. Căn cứ vào khoản 7 Điều 157, điểm a khoản 1 Điều 282 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Vũ Văn T1.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức C phạm tội “Đánh bạc”.
3. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức C 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, bị cáo Đỗ Đức C kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt từ 07 tháng tù sang hình phạt tù không giam giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc phạt tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đỗ Đức C kháng cáo xin giảm hình phạt và xin chuyển sang hình phạt tù không giam giữ. Tại phiên tòa, bị cáo xin hưởng án treo hoặc phạt tiền.
Về thời hạn kháng cáo đúng thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung: ngày 02/01/2024, bị cáo C có hành vi bán số đề cho bị cáo Vũ Văn T1 với số tiền 6.090.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo bán số để nhằm thu lợi nên phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu. Do đó, có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức C.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức C; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân dân huyện Phú Giáo, xử phạt bị cáo Chung từ 20 triệu đến 30 triệu đồng.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày bài bào chữa: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người được UBND huyện P tặng nhà tình thương; bị cáo tham gia tích cực các hoạt động ở địa phương; bị cáo hiện đang điều trị bệnh tăng lipit máu hỗn hợp, trào ngược dạ dày…, đang trong giai đoạn chuyển sản ruột, tổn thương tiền ung thư. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được phạt tiền là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo không ý kiến tranh luận và không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, do đó có cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 04/01/2024, tại nhà của Vũ Văn T1, thuộc ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, Công an xã A, huyện P tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện bị cáo T1 có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, hình thức mua, bán số đề với Đỗ Đức C. Ngày 04/01/2024, tổng số tiền C bán số đề cho Vũ Văn T1, Hà Văn T3, Đỗ Văn H và Mai Văn T4 đài xổ số Miền Nam là 4.109.000 đồng; đài xổ số M2 là 106.000 đồng; đài xổ số Miền B là 2.242.000 đồng.
Ngoài ra, C còn bán số đề vào các ngày 30/12/2023, 31/12/2023, 01/01/2024, 02/01/2024 và 03/01/2024 cho T1, T3, H, T4 và Nguyễn Văn T5 với số tiền như sau: Tổng số tiền C đánh bạc với H ngày 30/12/2023 là 1.410.000 đồng; ngày 31/12/2023 là 530.000 đồng. Số tiền C đánh bạc với H và T5 ngày 01/01/2024 là 1.950.000 đồng. Số tiền C và T1 đánh bạc vào ngày 02/01/2024 là 2.500.000 đồng (đài xổ số M) và 6.090.000 đồng (đài xổ số M1). Số tiền C và T1, T5 đánh bạc ngày 03/01/2024 là 3.184.000 đồng (đài xổ số M) và 2.160.000 đồng (đài xổ số M1). Trong đó số tiền T1 và C đánh bạc theo kết quả đài xổ số Miền Bắc ngày 02/01/2024 là 6.090.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Đức C về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo hoặc phạt tiền của bị cáo Đỗ Đức C, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo Đỗ Đức C có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo đã lớn tuổi, hiện đang điều trị nhiều bệnh; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; do đó không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 35 của Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo cũng đủ giáo dục răn đe bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức C được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương:
2. Về trách nhiệm hình sự:
2.1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức C phạm tội “Đánh bạc”.
2.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Đỗ Đức C 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Đỗ Đức C không phải nộp.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo (03); - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo; - Bị cáo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo; - Lưu VP (4), hồ sơ vụ án, HTHT, 25. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Đức |