- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2025/DS-ST Ngày: 29- 9 -2025 V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Thị Mến
2. Ông Đào Danh Tuất
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2025/TLST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 68/2025/QĐST-DS ngày 08/9/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1970 và Ông Nguyễn Hoan Th, sinh năm: 1969. Cùng địa chỉ: Ấp Bến Lội, xã Bình Châu, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Đặng Thị Thanh H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp Xóm Rẫy, xã Hồ Tràm, thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1970 và ông Dương Văn T, sinh năm: 1971. Cùng địa chỉ: Ấp Bình Hòa, xã Bình Châu, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Vào ngày 16/05/2022 âm lịch vợ chồng bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th có cho bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn T vay số tiền là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) để làm mành lưới. Vào ngày 29/07/2022 âm lịch bà D ra nhà bà M và ông Th mượn thêm số tiền 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng) để mua tổn, vì bà D nói mượn đỡ nên bà M, ông Th đưa. Như vậy tổng số tiền mà bà D và ông T vay của bà M và ông Th là 190.000.000đ (Một trăm chín mươi triệu đồng), có giấy mượn tiền do bà D kí tên. Nay vợ chồng bà M, ông Th cần tiền để trả nợ cho Ngân hàng nên đã thông báo cho vợ chồng bà D nhiều lần để lấy lại số tiền nói trên nhưng bà D, ông T không muốn trả cứ hẹn lần, hẹn lượt.
Nay bà bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn T phải trả cho bà M, ông Th số tiền còn thiếu là 190.000.000đ (Một trăm chín mươi triệu đồng), không yêu cầu trả tiền lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị D, ông Dương Văn T: Theo phiếu xác minh ngày 9/6/2025 của Toà án thì kết quả xác minh bà Nguyễn Thị D, ông Dương Văn T có hộ khẩu thường trú và nơi ở tại địa chỉ Tổ 4, ấp Bình Hòa, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay là ấp Bình Hoà, xã Bình Châu, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa tuy nhiên bà D, ông T vắng mặt không có lý do cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn có nơi cư trú tại địa chỉ: Ấp Bình Hòa, xã Bình Châu, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó, theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự cho bị đơn là bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn T. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị D, ông Dương Văn T đều vắng mặt; tại phiên tòa bà D, ông T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Sự vắng mặt của Kiểm sát viên: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh có văn bản thông báo không tham gia phiên toà với lý do vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về nợ gốc: Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị D, ông Dương Văn T phải trả cho bà M, ông Th số tiền nợ là 190.000.000đ (Một trăm chín mươi triệu đồng). Bà M, ông Th đã cung cấp cho Toà án giấy tay “giấy mượn nợ” có chữ kí mang tên Nguyễn Thị D với số tiền vay là 190.000.000đ. Hiện bà D, ông T còn nợ bà M, ông Th số tiền 190.000.000đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà D, ông T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà M, ông Th và cũng không cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ chứng minh về việc đã thanh toán số tiền 190.000.000đ cho bà M, ông Th mặc dù bà D, ông T đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về nội dung vụ án và vẫn sinh sống tại địa phương; do đó căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh. Như vậy việc bà D, ông T vay bà M, ông Th số tiền 190.000.000đ là có thật, mặc dù đã được bà M, ông Th cho thời gian để trả nợ nhưng cho đến nay bà D, ông T vẫn chưa trả số tiền trên cho bà M, ông Th nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, ông Th buộc bà D, ông T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà M, ông Th số tiền vay còn thiếu là 190.000.000 đồng.
Về lãi suất: Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th không yêu cầu bà Nguyễn Thị D, ông Dương Văn T phải trả tiền lãi. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự, không trái với các quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tiền lãi.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th được chấp nhận nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn T phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự.
Áp dụng Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc bà Nguyễn Thị D, ông Dương Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hoan Th số tiền nợ là 190.000.000đ (Một trăm chín mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án một khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị D và ông Dương Văn T phải nộp 9.500.000đ (chín triệu năm trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hoan Th và bà Nguyễn Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho Ông Nguyễn Hoan Th và bà Nguyễn Thị M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.750.000đ (bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002584 ngày 22 tháng 05 năm 2025 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc (Nay là Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh).
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo qui định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 14 TP.Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự TP.Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Hiền |