vanban.org

Bản án 97/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh D đối với bị đơn Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB

Buộc bị đơn Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB phải có nghĩa vụ chi trả bảo hiểm cho người thừa kế hợp pháp của ông Lê Bá H2 là bà Bùi Thị Thanh D, anh Lê Bá H, anh Lê Bá H1 số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm — án dân sự — "không chấp nhận bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh D đối với bị đơn Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/DS - ST
Ngày 26 - 6 - 2025.
V/v "Tranh chấp hợp đồng
bảo hiểm”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Bá.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh

2. Ông Nguyễn Hữu Tin

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thọ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hà Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2025/TLST - DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST - DS ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh D, sinh năm 1971. Địa chỉ: đường Nguyễn Thái Học, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

Tổ chức đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Văn phòng Luật sư Vũ Minh Th. Địa chỉ: đường Trần Văn Dư, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện hợp pháp: Bà Ngô Thị Đ– Luật sư Văn phòng Luật sư Vũ Minh Th – Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam – Đại diện theo quyết định phân công ngày 20/6/2025 của Văn phòng Luật sư Vũ Minh Th. Có mặt

- Bị đơn: Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB; địa chỉ: đường Tông Đản, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Văn Đ - Tổng giám đốc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB

Người đại diện hợp pháp:

1. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1991 – Chuyên viên Phòng kiểm soát nội bộ - Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB. Có mặt

2. Bà Nguyễn Thị Thuý H, sinh năm 1984 – Trưởng bộ phận con người – Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB . Có mặt

3. Bà Võ Thị Y, sinh năm 1983 – Chuyên viên Phòng kế toán tổng hợp – Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB. Có mặt

4. Ông Nguyễn Đức G – Chuyên viên Ban Kiểm soát nội bộ - Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

(Văn bản uỷ quyền ngày 23/6/2025)

- Người có nghĩa vụ quyền lợi liên quan:

1. Anh Lê Bá H, sinh năm 1997. Địa chỉ: đường Nguyễn Thái Học, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

2. Anh Lê Bá H1, sinh năm 2003. Địa chỉ: đường Nguyễn Thái Học, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

Tổ chức đại diện theo ủy quyền của anh Hải, anh Huy: Văn phòng Luật sư Vũ Minh Th. Địa chỉ: 155 Trần Văn Dư, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện hợp pháp: Bà Ngô Thị Đ– Luật sư Văn phòng Luật sư Vũ Minh Th – Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam – Đại diện theo quyết định phân công ngày 20/6/2025 của Văn phòng Luật sư Vũ Minh Th. Có mặt

3. Ngân hàng Thương mại cổ phần LP. Đại chỉ liên hệ: đường Phan Chu Trinh, phường Phước H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đỗ Duy T, sinh năm 1980; chức vụ: Trưởng phòng khách hàng cá nhân (Văn bản uỷ quyền ngày 26/6/2025). Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn trình bày:

Ngày 19 tháng 6 năm 2023, ông Lê Bá H2, sinh ngày 02/4/1970 là chồng bà Bùi Thị Thanh D có ký hợp đồng bảo hiểm tín dụng An Khang (bảo hiểm tín dụng cá nhân) số 2199/23/EUD-010404/007-99 với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm XT nay là Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB. Theo đó, khoản vay được bảo hiểm của ông Lê Bá H2 là Hợp đồng tín dụng số HDTD48020230157 ngày giải ngân 19/6/2023, ngày kết thúc 19/6/2024, thời hạn vay: 12 tháng, số tiền giải ngân 02 tỷ đồng. Quyền lợi được bảo hiểm là: trường hợp người được bảo hiểm tử vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn quyền lợi bảo hiểm được chi trả: 100% dự nợ khoản vay còn lại tại thời điểm phát sinh sự kiện bảo hiểm hoặc dư nợ gốc khoản vay theo lịch trả nợ gần nhất với ngày phát sinh sự kiện bảo hiểm hoặc 100% số tiền bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm/HĐBH tuỳ vào giá trị nào nhỏ hơn. Hợp đồng bảo hiểm có thời hạn từ ngày 19/06/2023 đến 19/06/2024 với số tiền bảo hiểm tối đa là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng Việt Nam). Ngày 28/3/2024 ông Lê Bá H2 chết và đã đăng ký khai tử tại Uỷ ban nhân dân phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ số 22 ngày 04 tháng 04 năm 2024. Ngày 05/4/2024 bà Bùi Thị Thanh D có đơn yêu cầu trả tiền bảo hiểm tín dụng An Khang. Ngày 16 tháng 7 năm 2024, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB - Chi nhánh Quảng Nam thông báo kết quả giải quyết quyền lợi bảo hiểm với kết quả: LPB có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm, không trả tiền bảo hiểm và sẽ hoàn trả lại phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm sau khi trừ đi cá chi phí hợp lý (nếu có) với lý do: khách hàng Lê Bá H2 đã cố ý cung cấp thông tin không đầy đủ, sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm nên đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin. Không đồng ý với Thông báo kết quả giải quyết quyền lợi bảo hiểm này, bà Bùi Thị Thanh D đã khiếu nại thông báo. Ngày 04/10/2024, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB trả lời khiếu nại bảo lưu kết quả từ chối bồi thường tại Thông báo kết quả giải quyết quyền lợi bảo hiểm ngày 26/7/2024 đã được gửi đến khách hàng.

Không đồng ý với lý do từ chối bồi thường của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB bà Bùi Thị Thanh D đã khởi kiện đến Toà án, yêu cầu Toà án buộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB trả số tiền bảo hiểm 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) theo đúng thoả thuận tại hợp đồng. Đơn vị thụ hưởng là Ngân hàng Thương mại cổ phần LP. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, thì số nợ của Hợp đồng tín dụng số HDTD48020230157 ngày 19/6/2023 đã được tất toán nên bà Danh yêu cầu Toà án án buộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB trả số tiền bảo hiểm 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) cho những người thừa kế theo pháp luật của ông Lê Bá H2 gồm bà Bùi Thị Thanh D, anh Lê Bá H, anh Lê Bá H1.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 15/4/2025 và các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà dại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Ngày 19/06/2023, ông Lê Bá H2 yêu cầu tham gia bảo hiểm và kê khai thông tin tại Giấy yêu cầu bảo hiểm. Căn cứ theo thông tin của ông Hùng kê khai Tổng công ty bảo hiểm LPB - Chi nhánh Quảng Nam (gọi tắt là: Chi nhánh Quảng Nam) là đơn vị thành viên trực thuộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm số 2199/23/EHD-010404/007-99, thời hạn bảo hiểm từ ngày 19/06/2023 đến ngày 19/06/2024.

Ngày 05/04/2024, Bảo hiểm LPB nhận được Giấy yêu cầu trả tiền bảo hiểm tín dụng An Khang của bà Bùi Thị Thanh D với thông tin: ông Lê Bá H2 tử vong vào ngày 28/03/2024.

Ngày 26/07/2024, Chi nhánh Quảng Nam đã phát hành Thông báo số 61/2024/TB-LPBI-QNA về việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm đối với Giấy chứng nhận bảo hiểm số 2199/23/EHD-010404/007-99 gửi thân nhân của khách hàng Lê Bá H2 thông báo về từ chối bồi thường do khách hàng cung cấp thông tin không đầy đủ, sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm và sẽ hoàn lại 100% phí bảo hiểm là 10.000.000 đồng.

Ngày 23/09/2024, Bảo hiểm LPBank nhận được Đơn khiếu nại của bà Bùi Thị Thanh D về việc không đồng ý với kết quả giải quyết bồi thường. Theo đó, ngày 04/10/2024, Bảo hiểm LPB phát hành Công văn số 3626/2024/CV-LPBI-GĐBT về việc phúc đáp khiếu nại giải quyết quyền lợi bảo hiểm của khách hàng Lê Bá H2, bảo lưu kết quả giải quyết yêu cầu bảo hiểm mà Chi nhánh Quảng Nam đã thông báo cho bà Bùi Thị Thanh D.

Nay bà, Danh khởi kiện đên Toà án, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Danh, bởi lẽ: Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, ông Lê Bá H2 đã kê khai không đầy đủ và không trung thực về tình trạng sức khoẻ, bởi nếu ông Hùng cung cấp thông tin sức khoẻ, tình trạng đã phẫu thuật đặt stent động mạch vành và đang điều trị thuốc theo chỉ định của bác sỹ tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam thì Bảo hiểm LPB sẽ từ chối tiếp nhận bảo hiểm của ông Lê Bá H2.

- Người có nghĩa vụ quyền lợi liên quan Ngân hàng TMCP LP do người đại diện hợp pháp trình bày: Ông Lê Bá H2 và bà Bùi Thị Thanh D vay vốn tại Ngân hàng TMCP LP – CN Quảng Nam theo hợp đồng tín dụng số HDTD48020230157 ngày 19/6/2023 với số tiền vay 02 tỷ đồng. Hiện tại hợp đồng vay này đã được tất toán. Tại thời điểm ký kết hợp đồng vay, thi ông Lê Bá H2 tự nguyện tham gia Bảo hiểm tín dụng An Khang của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Xuân Thành nay là Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB qua kênh Ngân hàng vào ngày 19/6/2023 và đã được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm với phí bảo hiểm là 10.000.000 đồng; số tiền bảo hiểm tối đa là 01 tỷ đồng. Tại thời điểm ông Lê Bá H2 chết ngày 28/3/2024 thì dư nợ của ông Hùng, bà Danh theo hợp đồng tín dụng số HDTD48020230157 ngày 19/6/2023 là 1.200.000.000 đồng. Đại diện Ngân hàng khẳng định nội dung trình bày là đúng diễn biến sự việc. Hiện nay, dư nợ của ông Hùng, bà Danh đã được tất toán nên đại diện ngân hàng không có yêu cầu, đề nghị gì

- Người có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Bá H, Lê Bá Duy do người đại diện hợp pháp trình bày: Các anh Hải, Duy là con ruột của ông Lê Bá H2 và bà Bùi Thị Thanh D, nay ông Hùng đã chết không để lại di chúc nên các anh và bà Danh là những những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thứ nhất của ông Hùng. Vì vậy, đề nghị Toà án xem xét bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các anh theo quy định pháp luật. Đối với nội dung tranh chấp liên quan đến Bảo hiểm của ông Lê Bá H2 các anh thống nhất theo nội dung khởi kiện của mẹ là bà Bùi Thị Thanh D.

Đại diện Viện kiểm sát thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng và đầy đủ. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký được phân công đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của đương sự; tạo điều kiện cho các đương sự thảo thuận giải quyết nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau. Hội đồng xét xử đã điều hành phiên toà cho đến trước thời điểm nghị án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung giải quyết: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Đại diện viện kiểm sát nhận thấy: Tại thời điểm tham gia bảo hiểm, ông Hùng đang sử dụng thuốc điều trị bệnh tim theo chỉ định của Bệnh viện nhưng không nằm viện. Cụm từ “đang điều trị bệnh liên tục” mang nội hàm chung; ông Hùng là một người mua bảo hiểm thông thường, không có kiến thức chuyên môn về y khoa nên không hiểu hết được như thế nào là “điều trị liên tục”, “điều trị nội trú”, “điều trị ngoại trú”, trong khi đó thời điểm này ông Hùng đang ở nhà, không nằm viện, không khám chữa bệnh tại bệnh viện nên ông Hùng đã trả lời “Không đang điều trị bệnh liên tục trong vòng 02 tuần gần đây”. Theo quy định tại Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022; khoản 2 Điều 405 BLDS năm 2015 thì Điều khoản này phải được giải thích theo hướng có lợi cho ông Hùng. Mặc khác, tại đơn yêu cầu bảo hiểm không có câu hỏi cụ thể nào đề cập đến bệnh tim nên ông Hùng đã không cung cấp thông tin liên quan đến việc ông bị bệnh tim. Như vậy, Bảo hiểm LPBank cho rằng ông Hùng cố ý cung cấp thông tin không đầy đủ, không trung thực là không có căn cứ.

- Ông Hùng ký Hợp đồng bảo hiểm tín dụng có thời hạn từ ngày 19/6/2023 đến ngày 19/6/2024. Ông Hùng chết ngày 28/3/2024; ngày 05/4/2024 bà Bùi Thị Danh nộp Giấy yêu cầu trả tiền bảo hiểm tín dụng An Khang là vẫn còn trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.

Vì vậy, Căn cứ các Điều 404, 405 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh D; buộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB chi trả số tiền bảo hiểm 1.000.000.000 đồng theo nội dung tại Giấy chứng nhận bảo hiểm tín dụng ngày 19/6/2023 cho những người thừa kế của ông Hùng là bà Bùi Thị Thanh D, ông Lê Bá H và ông Lê Bá H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán bảo hiểm. Bị đơn có địa chỉ Chi nhánh tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và theo sự lựa chọn của nguyên đơn nên vụ án có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về quyền khởi kiện: Bà Bùi Thị Thanh D có quan hệ hôn nhân hợp pháp với ông Lê Bá H2, khi còn sống ông Hùng có xác lập hợp đồng bảo hiểm với bị đơn. Ngày 28/3/2024 ông Hùng chết nên bà Danh nộp đơn đề nghị được thụ hưởng bảo hiểm nhưng bị đơn từ chối chi trả bảo hiểm. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện đến Toà án yêu cầu được thụ hưởng bảo hiểm theo hợp đồng. Hội đồng xét xử nhận định, bà Danh là vợ hợp pháp của ông Hùng nên thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định pháp luật của ông Hùng. Do vậy, bà Danh có quyền khởi kiện để đòi quyền lợi bảo hiểm là đúng quy định tại các Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Đức Giang là một trong những người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn nhưng đây là lần triệu tập thứ hai và hơn nữa ông Giang có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Giang.

Nội dung tranh chấp: Ngày 19 tháng 6 năm 2023, ông Lê Bá H2 là chồng bà Bùi Thị Thanh D có ký hợp đồng bảo hiểm tín dụng An Khang (bảo hiểm tín dụng cá nhân) số 2199/23/EUD-010404/007-99 với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Xuân Thành nay là Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB (Sau đây viết tắt là Bảo hiểm LPBank). Ngày 28/3/2024 ông Lê Bá H2 chết. Ngày 16 tháng 7 năm 2024, Bảo Hiểm LPBank - Chi nhánh Quảng Nam thông báo kết quả giải quyết quyền lợi bảo hiểm từ chối chi trả bảo hiểm. Do vậy, bà Danh khởi kiện yêu cầu Bảo hiểm LPBank trả số tiền bảo hiểm: 1.000.000.0000 đồng (Một tỷ đồng) theo đúng thoả thuận tại hợp đồng. Bị đơn xác nhận ông Lê Bá H2 có giao kết hợp đồng bảo hiểm với bị đơn, đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đã được cấp chứng nhận bảo hiểm. Ngày 05/04/2024, bị đơn nhận được yêu cầu chi trả bảo hiểm của nguyên đơn. Sau khi kiểm tra hồ sơ bảo hiểm bị đơn nhận thấy tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, ông Lê Bá H2 đã kê khai không đầy đủ và trung thực về tình trạng sức khoẻ. Cụ thể ông Hùng không cung cấp thông tin sức khoẻ, tình trạng đã phẫu thuật đặt stent động mạch vành và đang điều trị thuốc theo chỉ định của bác sỹ tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam. Nếu ông Hùng cung cấp thông tin này đầy đủ thì Bảo hiểm LPBank sẽ từ chối giao kết hợp đồng bảo hiểm với ông Lê Bá H2. Do đó, bị đơn không đồng ý chi trả bảo hiểm nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị đơn không chấp nhận.

Hội đồng xét xử nhận định: Ông Lê Bá H2 có giao kết hợp đồng bảo hiểm với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Xuân Thành nay là Bảo hiểm LPBank. Hợp đồng đã giao kết phù hợp với quy định pháp luật. Bên mua bảo hiểm ông Lê Bá H2 đã thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ. Ông Lê Bá H2 chết ngày 28/3/2024 là nằm trong thời hạn bảo hiểm nên khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra theo thoả thuận của hợp đồng thì phải được xem xét, giải quyết quyền lợi bảo hiểm. Xét rằng, tại “Giấy yêu cầu bảo hiểm tín dụng An Khang” có mục “Ông/bà có đang điều trị bệnh liên tục trong vòng 02 tuần gần đây” và người yêu cầu ông Lê Bá H2 đã tích vào mục “Không”. Cụm từ “đang điều trị bệnh liên tục” mang nội hàm chung; ông Hùng là một người mua bảo hiểm thông thường, không có kiến thức chuyên môn về y khoa nên không hiểu hết được như thế nào là “điều trị liên tục”, “điều trị nội trú”, “điều trị ngoại trú”, trong khi đó thời điểm này ông Hùng đang ở nhà, không nằm viện, không khám chữa bệnh tại bệnh viện nên ông Hùng đã trả lời “Không”. Tuy nhiên, căn cứ vào hồ sơ bệnh án của ông Lê Bá H2 thể hiện ngày 05/12/2022, ông Lê Bá H2 có can thiệp động mạch vành sau đặt Stent và đang được Bác sĩ chỉ định “Điều trị duy trì, uống thuốc, tái khám định kỳ” nên Bảo hiểm LPBank cho rằng tại thời điểm mua bảo hiểm ông Lê Bá H2 đã cố ý cung cấp thông tin không đầy đủ, sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm là thuộc trường hợp vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin nên không được chi trả bảo hiểm theo thoả thuận.

Như vậy, việc người mua bảo hiểm ông Lê Bá H2 và Bảo hiểm LPBank có cách hiểu khác nhau về điều khoản trong hợp đồng đã giao kết. Căn cứ Điều 404 Giải thích hợp đồng của Bộ luật Dân sự quy định: “1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng. 2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của hợp đồng. 3. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng. 4. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng. 5. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng. 6. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia”.

Căn cứ vào quy định của pháp luật như đã viện dẫn thì có thể giải thích rằng: Loại bảo hiểm ông Hùng mua là bảo hiểm tín dụng dành cho các khách hàng của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (nay là Ngân hàng Lộc Phát) khi đến vay vốn tại Ngân hàng. Hợp đồng Bảo hiểm được ký kết song song cùng với Hợp đồng tín dụng. Tại Giấy chứng nhận bảo hiểm nêu rõ: trường hợp người được bảo hiểm tử vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn quyền lợi bảo hiểm được chi trả: 100% dư nợ khoản vay còn lại tại thời điểm phát sinh sự kiện bảo hiểm hoặc dư nợ gốc khoản vay theo lịch trả nợ gần nhất với ngày phát sinh sự kiện bảo hiểm hoặc 100% số tiền bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm/HĐBH và người thụ hưởng bảo hiểm đầu tiên là Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LPBank). Như vậy, về mặc ý chí của người mua bảo hiểm ông Lê Bá H2 là để đảm bảo cho việc được giải ngân trong hồ sơ vay với Ngân hàng. Thời điểm giao kết hợp đồng ông Hùng là người khoẻ mạnh, đảm bảo sức khoẻ để giao kết hợp đồng vay và thực tế đã giao kết hợp đồng vay nên không thể đánh giá rằng ông Hùng sức khoẻ có vấn đề cần che giấu.

Tại phiên toà, đại diện bị đơn và đại diện của Ngân hàng Lộc Phát đều thừa nhận nhân viên tư vấn bảo hiểm là nhân viên của Ngân hàng chứ không phải là nhân viên của Bảo hiểm TPBank nên bị đơn cho rằng đã tư vấn đầy đủ cho người mua bảo hiểm là không có cơ sở. Do vậy, có thể hiểu thực tế quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm, ông Lê Bá H2 không được giải thích cụ thể về các điều kiện trong đơn yêu cầu bảo hiểm.

Mặc khác, theo quy định tại Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm; khoản 2 Điều 405 BLDS năm 2015 thì khi Hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó. Do vậy, hợp đồng bảo hiểm được giải thích theo hướng có lợi cho ông Hùng. Bên cạnh đó, tại đơn yêu cầu bảo hiểm không có câu hỏi cụ thể nào đề cập đến bệnh tim nên ông Hùng đã không cung cấp thông tin liên quan đến việc ông bị bệnh tim là phù hợp.

Từ những nhận định trên cho thấy, ông Lê Bá H2 không cố ý cung cấp thông tin không đầy đủ, sai sự thật về tình trạng sức khoẻ. Do vậy, Bảo hiểm Lpbank phải có trách nhiệm chi trả bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Theo các tài liệu chứng cứ về hợp đồng vay, xác nhận của tổ chức cho vay thì tại thời điểm ông Hùng chết (Ngày 28/3/2024) thì ông Hùng còn nợ Ngân hàng Lộc Phát theo hợp đồng tín dụng đã mua bảo hiểm với số tiền là 1.200.000.000 đồng. Căn cứ thoả thuận tại Giấy chứng nhận bảo hiểm tín dụng An Khang ngày 19/6/2023 thì giá trị bảo hiểm là 01 tỷ đồng nên Bảo hiểm LPBank có nghĩa vụ chi trả số tiền bảo hiểm là 01 tỷ đồng và đơn vị thụ hưởng đầu tiên là Ngân hàng Lộc Phát. Tuy nhiên, hiện nay Hợp đồng tín dụng số HDTD48020230157 ngày 19/6/2023 được ký kết giữa ông Hùng, bà Danh với Ngân hàng Lộc Phát đã được tất toán, khoản nợ theo hợp đồng này không còn. Vì vậy, Bảo hiểm LPBank phải có nghĩa vụ chi trả khoản tiền bảo hiểm 01 tỷ đồng theo Giấy chứng nhận bảo hiểm số 2199/23/EHD-010404/007-99 cho những người thừa kế hợp pháp của ông Lê Bá H2 là bà Bùi Thị Thanh D, anh Lê Bá H1, anh Lê Bá H

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền mà Tòa án tuyên buộc bị đơn phải trả là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) tương ứng với số tiền án phí là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng).

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 147; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 117, Điều 385, Điều 404, Điều 405, Điều 609, Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 21, Điều 22, Điều 24 của Luật kinh doanh bảo hiểm; Điều 26, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh D đối với bị đơn Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB

2. Buộc bị đơn Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB phải có nghĩa vụ chi trả bảo hiểm cho người thừa kế hợp pháp của ông Lê Bá H2 là bà Bùi Thị Thanh D, anh Lê Bá H, anh Lê Bá H1 số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí Dân sự sơ thẩm:

Bị đơn Tổng công ty cổ phần bảo hiểm LPB phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai đồng).

Hoàn trả cho bà Bùi Thị Thanh D số tiền tạm ứng án phí 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) theo biên lai thu số 0001813 ngày 17/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/6/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ