vanban.org

Bản án 97/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Về xử lý vật chứng: Tạm giữ của bị cáo Phùng Láo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 1: 869347036035850, điện thoại cũ đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Láo T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HS-ST
Ngày 31 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Lan Hương

2. Ông Cao Kim Hoàn

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Thuỳ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại Nhà văn hoá tổ 12, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phùng Láo T - Sinh ngày 09/11/1986 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Sin C - Sinh năm 1965 và bà Tẩn Tả M - Sinh năm 1968; Vợ là Vàng Tả M (Đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma tuý.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/6/2023, Phùng Láo T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B1- 939.73 đi từ lán xây dựng tại ven đường quốc lộ 4D thuộc thôn Tòng Sành, xã Cốc San, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, đến khu vực ngã ba Bến Đá thuộc thôn Xi Măng, xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, mục đích để mua ma tuý. Tại đây, Phùng Láo T gặp một người nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ đang đứng ở ven đường. Qua trao đổi, Phùng Láo T đưa cho người nam giới số tiền 100.000 đồng. Người nam giới nhận tiền rồi đưa cho Phùng Láo T 01 gói giấy, biết đó là gói ma tuý nên Phùng Láo T dùng tay phải cầm gói ma tuý giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về. Vào hồi 12 giờ 15 phút cùng ngày, Phùng Láo T đang đứng ở ven đường cạnh xe mô tô biển kiểm soát 24B1-939.73 để tìm nơi sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác của Công an phường Bắc Lệnh phối hợp với Công an thành phố Lào Cai kiểm tra, bắt giữ. Quá trình kiểm tra có mời ông Chu Mạnh H - Sinh năm 1959, trú tại: Tổ 05, phường Bắc Lệnh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai chứng kiến. Trước sự có mặt của người chứng kiến, Phùng Láo T tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc trên người ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy, bên trong là lớp giấy chứa chất bột khô màu trắng, vón cục. Phùng Láo T khai nhận đây là gói ma tuý Phùng Láo T mua được, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác dẫn giải Phùng Láo T cùng toàn bộ vật chứng, phương tiện về trụ sở Công an phường Bắc Lệnh để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng trước sự có mặt của người chứng kiến theo quy định.

Tạm giữ của Phùng Láo T 01 xe mô tô nhãn hiệu DETECH loại ESPERO màu xanh đen, biển kiểm soát 24B1- 939.73, số khung 010656, số máy 010656, xe đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 1: 869347036035850, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Ngày 05/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã ra quyết định trưng cầu giám định số 176 đối với vật chứng đã thu giữ của Phùng Láo T ngày 05/6/2023. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 05/6/2023 xác định niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định. Xác định: Một gói được gói ngoài bằng giấy, bên trong gói chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Khối lượng của số chất bột khô, màu trắng, vón cục này là 0,19 gam. Cơ quan giám định tiến hành trích mẫu 0,06 gam để tiến hành giám định, còn lại 0,13 gam cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong hoàn trả cơ quan trưng cầu.

Kết luận giám định số 189/KL - GĐMT ngày 07/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,19 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine.

Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Phùng Láo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Láo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phùng Láo T về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Phùng Láo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định; Tạm giữ của bị cáo Phùng Láo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 1: 869347036035850, điện thoại cũ đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Phùng Láo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết xã hội và pháp luật, nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vào ngày 05/6/2023 Phùng Láo T đã có hành vi mua ma túy về mục đích để sử dụng cho bản thân và bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Theo kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, số ma túy thu giữ được của bị cáo Phùng Láo T có tổng khối lượng là 0,19 gam Heroine. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phùng Láo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma tuý. Vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phùng Láo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phùng Láo T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo không có việc làm ổn định, là đối tượng nghiện ma túy nên không có tài sản và thu nhập gì. Vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Số ma tuý Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng là 0,19 gam Heroine, sau khi trích mẫu giám định còn lại 0,13 gam Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 24B1-939.73, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của anh Sần Thó Che - Sinh năm 1985, trú tại thôn Lao Chải, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Ngày 05/6/2023 anh Sần Thó Che cho bị cáo Phùng Láo T mượn chiếc xe trên. Anh Che không biết và không liên quan đến việc phạm tội của Phùng Láo T. Ngày 25/7/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai quyết định trả lại chiếc xe trên cho anh Sần Thó Che là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 1: 869347036035850, điện thoại cũ đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Phùng Láo T, xét thấy bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nhưng do bị cáo còn phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo thi hành án.

Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án: Đối với người nam giới đã bán ma tuý cho Phùng Láo T vào ngày 05/6/2023, do Phùng Láo T không biết tên, tuổi và địa chỉ của người nam giới này và chỉ có duy nhất lời khai của Phùng Láo T nên Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phùng Láo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phùng Láo T 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.

Tạm giữ của bị cáo Phùng Láo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 1: 869347036035850, điện thoại cũ đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 8 năm 2023 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai).

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phùng Láo T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ