vanban.org

Bản án 97/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 15/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lường Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lường Văn T1 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ 07/4/2023. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số 442/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh cùng với 01 (một) sim điện thoại có dãy số 8984, 04800, 03814, 68974. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lường Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 97/2023/HS-ST
Ngày: 15- 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Chính Nghĩa.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Văn Bảo.

Bà Lê Thị Thanh Thủy.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Huệ - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/TLST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn T1; tên gọi khác: không; sinh ngày xx/xx/20xx, tại huyện U, tỉnh C1; nơi thường trú: bản N2, xã K, huyện U, tỉnh C1; nơi ở hiện tại: tổ x, khu xx, phường T2, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: thái; Giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Lường Văn N và bà: Lò Thị A; vợ và con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 07/4/2023, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh - có mặt.

Người chứng kiến: Trần Văn C, Vũ Như S (đều vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 07/4/2023, tại tổ 57, khu H1, phường Đ, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang Lường Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,182 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ của T1: tại túi quần bên trái phía trước 01 (một) túi nilon chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen lắp 01 sim.

Kết luận giám định số 442/KLGĐ ngày 13/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: mẫu vật thu của Lường Văn T1 là ma tuý, loại: Heroine, tổng khối lượng 0,182 gam (không phẩy một tám hai gam). Hoàn lại tổng số 0,13 gam (không phẩy mười ba gam) mẫu vật sau giám định và vỏ bao gói.

Quá trình điều tra, Lường Văn T1 khai nhận: T1 sử dụng ma tuý loại Heroine từ năm 2020. Khoảng 11 giờ ngày 07/4/2023, T1 nhờ một người đàn ông không r lai lịch, địa chỉ, mua 400.000 đồng ma túy để sử dụng. Khi cả hai đang tìm ch để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang, người đàn ông bỏ chạy.

* Người chứng kiến Trần Văn C và Vũ Như S đều có các lời khai chứng kiến việc Công an kiểm tra, bắt giữ nam thanh niên tàng trữ ma túy và thu giữ vật chứng. Anh Trần Văn C khai: vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 07/4/2023, anh đang đi công việc qua cây xăng H thuộc tổ xx, khu H1, phường Đ, thành phố cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh thì nhìn thấy lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ một nam thanh niên. Anh dừng lại xem thì được nghe nam thanh niên khai với Công an lai lịch là Lường Văn T1, sinh năm 2001, trú tại bản N2, xã K, huyện U, tỉnh C1. Anh thấy lực lượng Công an kiểm tra thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của T1 đang mặc 01 (một) túi nilon trong suốt bên trong có chứa chất bột màu trắng. T1 khai với Công an đó là ma túy Heroine mà T1 vừa mua được với mục đích để sử dụng. Thu giữ tại tay phải của T1 đang cầm một điện thoại di động vỏ màu đen nhãn hiệu REDMI, lắp sim 0342.016.610.

Bản cáo trạng số 73/CT - VKSCP ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Lường Văn T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đưa ra những chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lường Văn T1 từ 13 (mười ba) tháng tù đến 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt giữ 07/04/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành có trong 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số 442/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn REDMI kèm 01 sim là công cụ phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại cơ quan điều tra và phiên toà bị cáo Lường Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố.

Bị cáo thừa nhận việc bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với kết luận giám định số: 442/KLGĐ ngày 13/4/2023 của phòng kỹ thuật hình sự công an Tỉnh Quảng Ninh về khối lượng ma túy bị thu giữ; lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là các anh Trần Văn C, Vũ Như S đã chứng kiến việc Công an kiểm tra bắt giữ bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy và thu toàn bộ vật chứng; phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: hồi 11 giờ 45 phút ngày 07/4/2023, tại khu Hải Sơn 1, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Lường Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,182 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang.

Hành vi của Lường Văn T1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an ở địa phương và tiếp tay cho các đường dây mua bán trái phép chất ma túy; Ma túy là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về vật chứng: lượng ma túy hoàn lại sau giám định có trong 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số 442/KLGĐ ngày 13/4/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Quảng Ninh là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; Vật chứng là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI được xác định bị cáo dùng liên lạc mua ma túy để sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; Vật chứng là 01 sim điện thoại gắn với chiếc điện thoại REDMI không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông mà bị cáo T1 khai đã mua ma túy hộ T1, do quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để làm r .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Lường Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lường Văn T1 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ 07/4/2023.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số 442/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh cùng với 01 (một) sim điện thoại có dãy số 8984, 04800, 03814, 68974.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen.

Tình trạng vật chứng được xử lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 113/BB - THA ngày 05 tháng 7 năm 2023 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Lường Văn T1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ