- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2023/HS-ST Ngày 18 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thông; bà Vũ Thị Thanh Hương
-Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Chín – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung T (tên gọi khác: không), sinh ngày 04/8/1977 tại xã V, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: thôn D, xã V, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1952 và bà Hà Thị T, sinh năm 1952; vợ: Đỗ Thị K, sinh năm 1977; con: có 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2023 đến ngày 29/7/2023 chuyển tạm giam đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: ông Lê Văn C, sinh năm 1986; nơi cư trú: thị trấn T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 23/7/2023, tại khu vực TDP N, thị trấn T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang Nguyễn Trung T, sinh năm 1977 trú tại xã V, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ, tạm giữ gồm: Thu tại tay trái T đang cầm 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy tráng kim loại màu bạc, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, T khai nhận đây là gói ma túy Heroine của T vừa mua được với giá 200.000 đồng với mục đích sử dụng cho bản thân. Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu A1.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại thôn D, xã V. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 23/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn Vĩnh Tường tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Trung T. Kết quả dương tính với chất ma túy Heroine.
Ngày 23/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định trưng cầu giám định số 409, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành giám định xác định loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A1.
Ngày 27/7/2023, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có bản kết luận giám định số 2055/KLGĐ, xác định: Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,1927g (không phảy một chín hai bảy gam, không kể bao bì) là ma túy; loại heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,1581 gam mẫu vật cùng bao gói được niêm phong trong một bao giấy gói “MẪU TRẢ”, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
Nguồn gốc ma túy Nguyễn Trung T khai nhận: Khoảng hơn 19 giờ ngày 23/7/2023, T đang ở nhà tại thôn D, xã V, huyện Vĩnh Tường thì nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy heroine. Do biết một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi ở thị trấn Thổ Tang có bán ma túy heroine nên T đã cầm theo 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng đi đến thị trấn Thổ Tang để tìm mua ma túy. Khi đi đến đoạn đường lớn gần nhà thì T đi nhờ được xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực gần UBND thị trấn Thổ Tang thì xuống xe. Sau đó, T đi bộ khoảng 100m đến ngã tư đầu tiên hướng đi từ UBND thị trấn Thổ Tang đi ra khu vực cầu Chó thì rẽ phải, khi đi được khoảng 80m thì T gặp 01 người đàn ông có đặc điểm giống người bán ma túy nên đã đi đến và hỏi người này: “Có hàng không để anh cái hai”, người này hiểu ý T muốn hỏi mua 01 gói ma túy heroine với giá 200.000 đồng nên đáp lại: “Đưa tiền đây”. T lấy ra 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng đưa cho người đàn ông trên, người đó cầm tiền T đưa rồi đưa lại cho T 01 gói ma túy heroine bọc bên ngoài bằng giấy tráng kim loại màu bạc. T cầm gói ma túy heroine ở tay trái rồi đi bộ về phía ngã tư gần UBND thị trấn Thổ Tang để đi nhờ xe về nhà, khi đi được khoảng 30m thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như trên.
Tại Cáo trạng số: 94/CT-VKS ngày 29 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép 0,1927 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân và không có lời bào chữa, ý kiến tranh luận nào khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ân hận về việc làm của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trung T đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/7/2023, tại khu vực TDP N, thị trấn T, huyện Vĩnh Tường, Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,1927 gam chất ma túy heroine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ được, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine, .... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ nhận thức hiểu biết về tác hại của ma túy, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Từ việc sử dụng, mua bán ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp tài sản, giết người … nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ thực hiện tội phạm của bị cáo.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào; về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo được tặng kỷ niện chương chiến sỹ bảo vệ T cổ Quảng Trị năm 1972 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải là hình phạt tù, có như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ...”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Trung T, theo lời khai của T là một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi, cao khoảng 1,60m, đi xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe wave. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã tiến hành xác minh trên địa bàn thị trấn Thổ Tang nhưng chưa xác định được người này là ai, ở đâu. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật A1 = 0,1581 gam mẫu là ma túy Heroine cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Nguyễn Trung T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 23/7/2023.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1581 gam ma túy heroin cùng toàn bộ bao gói, cơ quan giám định hoàn trả sau giám định (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Vĩnh Tường và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường ngày 05/9/2023).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử theo trình tự phúc thẩm./. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Thông; Vũ Thị Thanh Hương
Lê Thị Huyền
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- VKSND huyện Vĩnh Tường;
- TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
- THA huyện Vĩnh Tường;
- Công an huyện Vĩnh Tường;
- Sở Tư pháp Vĩnh Phúc;
Lê Thị Huyền
- Bị cáo;
- Lưu HS+Vp. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Huyền
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- VKSND huyện Vĩnh Tường;
- TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
- THA huyện Vĩnh Tường;
- Công an huyện Vĩnh Tường;
- Sở Tư pháp Vĩnh Phúc;
Lê Thị Huyền
- Bị cáo;
- Lưu HS+Vp. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Huyền
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Vĩnh Tường; - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - THA huyện Vĩnh Tường; - Công an huyện Vĩnh Tường; - Sở Tư pháp Vĩnh Phúc; - Bị cáo; - Lưu HS+Vp | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thị Huyền |