vanban.org

Bản án 97/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Hữu B 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q UỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 97/2023/HS-ST

Ngày: 19/09/2023

HUYỆN QUỲNH PHỤ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q UỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Khải Ông Đinh Thế Cần - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Viết Quyết - Kiểm sát viên. Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Hữu B, sinh ngày 09/9/1992 tại xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1965 và bà: Trần Thị D, sinh năm 1973; có vợ: đã ly hôn và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tháng 9/2011 tham gia nghĩa vụ quân sự đến tháng 03/2013 xuất ngũ về địa phương; bị tạm giam từ ngày 08/3/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (có mặt). - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt). - Người làm chứng: Chị Trần Thị D, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt). - Người chứng kiến: Ông Trần Viết T, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 09/02/2023, tại đường thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện Nguyễn Hữu B và Nguyễn Ngọc T có biểu hiện vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu B, T về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện Q để làm việc. Tại đây, T tự nguyện giao nộp 02 túi nilon chứa các sợi thảo mộc màu nâu, T khai là

“tobacco” vừa mua của B với số tiền 250.000 đồng. B tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu nâu và số tiền 250.000 đồng gồm 02 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 02 tờ mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng; B khai đó là tiền vừa bán 02 túi thảo mộc chứa chất ma túy cho T có được. B tự nguyện về nhà lấy giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu vàng, kích thước khoảng 8x10cm và 12 túi nilon màu vàng cùng kích thước 14x18cm, bên trong đều chứa các sợi thảo mộc màu nâu. B khai là “tobacco” để bán kiếm lời. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng, lập biên bản vụ việc và biên bản niêm phong vật chứng. Ngày 08/3/2023 khám xét nơi ở của Nguyễn Hữu B không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Bản kết luận giám định số 891/KL-KTHS ngày 19/02/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:“Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu gửi đến giám định. Khối lượng các mẫu như sau: TT Ký hiệu mẫu Khối lượng TT Ký hiệu Khối lượng (gam) mẫu (gam) 1 M1 2,742 8 M8 99,89 2 M2 95,80 9 M9 97,61 3 M3 101,02 10 M10 97,84 4 M4 99,96 11 M11 100,89 5 M5 99,81 12 M12 97,67 6 M6 99,70 13 M13 53,60 7 M7 97,76 14 M14 11,754 (Ma túy MDMB-4en-PINACA STT 241, danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ; tổng khối lượng là 1.156,046 gam)” Tại phiên tòa bị cáo khai: Bị cáo sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của mình, có kết nối internet, cài đặt ứng dụng Zalo với tên tài khoản là “Bod”, đăng ký số thuê bao 0335.252.xyz. Bị cáo kết bạn Zalo với tài khoản “Anh Tô” và biết người này có bán sợi thảo mộc chứa chất ma túy; bị cáo liên hệ thống nhất ngày 05/02/2023 bị cáo chuyển trước 5.000.000 đồng từ tài khoản số 105868626abc tại Ngân hàng V của bị cáo đến tài khoản số 28890abc Ngân hàng xyz cho chủ tài khoản “Anh Tô” thông qua ứng dụng internet Banking trên điện thoại di động và hẹn giao hàng tại nơi ở của bị cáo, thông qua dịch vụ chuyển hàng COD (cash on delivery – thanh toán khi nhận hàng). Bị cáo được người bán khuyến mại thêm 01 túi cỏ tobacco. Trưa ngày 09/02/2023, bị cáo nhận được 01 thùng carton bên trong hộp có 13 túi nilon màu vàng đựng thảo mộc. Bị cáo lấy từ 01 túi ra một ít tobacco cho vào hai túi nilon nhỏ cất vào trong người, mục đích để bán kiếm lời, số còn lại cất giấu ở nhà.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày tại khu vực thôn T, xã Q, bị cáo bán cho Nguyễn Ngọc T 02 túi thảo mộc trên lấy 250.000 đồng thì bị phát hiện. Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Ngọc T có trong hồ sơ vụ án có nội dung: Do có nhu cầu sử dụng tobacco nên khoảng 21 giờ ngày 09/02/2023 khi đang đi bộ trên đường thuộc khu vực thôn T, xã Q thì gặp B. Vì có quan hệ bạn bè quen biết nên T hỏi và mua của B 02 túi tobacco với giá 250.000 đồng thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ bắt quả tang. Bản cáo trạng số 97/CT-VKSQP ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Hữu B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị tuyên bố Nguyễn Hữu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1; khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2023; phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản vụ việc; biên bản quản lý, niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình lập cùng

ngày 09/02/2023; biên bản khám xét chỗ ở của Nguyễn Hữu B do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình lập ngày 08/3/2023; biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến; bản kết luận giám định; bản sao kê chi tiết tài khoản Ngân hàng số 105868626abc của Ngân hàng V cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 09/02/2023, tại đường thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Hữu B có hành vi bán trái phép thảo mộc chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA, khối lượng 2,742 gam cho Nguyễn Ngọc T lấy số tiền 250.000 đồng và tàng trữ tại nhà bị cáo 1.153,304 gam thảo mộc chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA, tổng cộng số thảo mộc chứa chất ma túy ma túy MDMB-4en-PINACA bị cáo đã bán trái phép và tàng trữ để bán trái phép là 1.156,046 gam. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tội mua bán trái phép chất ma tuý " 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. … 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ. [3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là hiểm họa của toàn nhân loại, là tệ nạn xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang ra sức đấu tranh, cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng…nhằm loại bỏ nó ra khỏi đời sống xã hội, nhưng vì ham lợi bị cáo vẫn mua 1.156,046 gam ma túy về bán kiếm lời. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, do đó bị cáo phải chịu mức án nghiêm minh tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra. [4] Về tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo trung thực toàn bộ hành vi phạm tội do đó được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích trên, thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian

nhất định, như mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. [6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. [7] Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, kết quả điều tra xác định, người giao hàng lấy tên Nguyễn Văn L, trú tại thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi, số điện thoại 0867101abc, số tài khoản 28890abc mở tại Ngân hàng xyz. Anh Nguyễn Văn L khai khoảng tháng 10/2022 anh đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh có thuê phòng nghỉ trọ tại Quận 12 ở cùng với một người đàn ông tên L, khoảng 35 tuổi trong 10 ngày. L nói với anh là bị mất giấy tờ nên nhờ anh mở giúp một tài khoản ngân hàng để giao dịch. Ngày 04/10/2022, anh sử dụng thông tin cá nhân của mình mở một tài khoản ATM số 28890abc tại Ngân hàng xyz rồi giao cho anh L sử dụng. Từ đó đến nay anh không biết anh L ở đâu. Anh chỉ sử dụng một số điện thoại 0935094xyz, anh không sử dụng dịch vụ giao hàng nào, không biết Nguyễn Hữu B là ai. Số điện thoại 0867101abc mang tên Đinh Thị V, sinh năm 1966 trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Qua xác minh, bà V khai không biết Nguyễn Văn L là ai, bà không sử dụng và không đăng ký số thuê bao này. Do đó cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. [8] Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc T đã có hành vi mua trái phép 02 túi thảo mộc có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA của bị cáo mục đích để sử dụng, do Nguyễn Ngọc T chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi liên quan đến ma túy, khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Công an huyện Quỳnh Phụ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc T là đúng quy định của pháp luật. [9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Ngọc T 02 túi nilon chứa các sợi thảo mộc màu nâu, thu giữ của Nguyễn Hữu B 01 túi nilon màu vàng, kích thước khoảng 8x10 cm và 12 túi nilon màu vàng cùng kích thước 14x18 cm, bên trong đều chứa các sợi thảo mộc màu nâu, kết quả giám định kết luận là ma túy MDMB-4en-PINACA và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu để tiêu hủy; số tiền 250.000 đồng quản lý của bị cáo là tiền bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Ngọc T cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; chiếc điện thoại Iphone 11 promax bị cáo dùng vào việc chuyển tiền mua ma túy, do đó cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Hữu B 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2023. Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo 7.000.000đ (bảy triệu đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước. - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 1.154,756 gam mẫu vật gửi giám định và toàn bộ các vỏ bao gói quản lý của Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Hữu B trong phong bì niêm phong số 891/KL-KTHS của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an. Tịch thu 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) thu của bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 11 promax thu của bị cáo Nguyễn Hữu B. Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 17/8/2023 và ngày 12/9/2023. - Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Hữu B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án./. Nơi nhận

Cỡ chữ