- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Ph tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2023/HS-ST Ngày 07 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và bà Lê Thị Bích Thuần
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phó Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Ph, sinh ngày 22/7/1992; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Thái; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc;Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; Bố đẻ: Lò Văn S, sinh năm 1967; mẹ đẻ: Lò Thị D, sinh năm 1965; vợ là: Lò Thị T, sinh năm 1994; có 03 con, con lớn sinh 2012, nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn Ph trú tại Bản Nà Pè, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu (thuê trọ tại TDP. V, TT. B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc) là người không có nghề nghiệp và nghiện ma túy heroin. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/3/2023, Ph đang đi lang thang tại khu vực ven đường thuộc thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên thì gặp một người nam giới (Ph không biết tên, tuổi, địa chỉ) đi xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) rủ Ph đi làm thợ sơn công trình cùng, Ph đồng ý ngồi lên xe mô tô đi cùng người nam giới này. Sau đó, người nam giới này rủ Ph đi đến thị trấn Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy sử dụng, Ph đồng ý, người nam giới đưa cho Ph 600.000 đồng (tiền công ứng trước) để mua ma túy. Khi đi đến khu vực ngã tư TDP Kếu, thị trấn Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thì cả 2 dừng lại, Ph xuống xe tìm mua được 02 gói ma túy heroin với giá 600.000 đồng của một người nam giới không quen biết, sau khi mua được ma túy, Ph và người nam giới đi đến khu vực vắng người thuộc thị trấn Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, cả hai cùng sử dụng một phần ma túy trong 01 gói ma túy vừa mua được, phần ma túy còn lại và 01 gói ma túy còn nguyên Ph đưa cho nam giới đi cùng xem, người này bỏ hai gói ma túy Ph đưa vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long đã cũ rồi đưa lại cho Ph. Ph nhận vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 02 gói ma túy trên cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người để sử dụng dần. Đến Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, người nam giới điều khiển xe mô tô chở Ph đến khu vực ven đường Quốc lộ 2A thuộc TDP Kếu, thị trấn Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc và bảo Ph xuống xe đợi để người này đi có việc rồi quay lại đón. Ph xuống xe, đứng đợi ở ven đường, lúc này có Tổ công tác Công an huyện Bình Xuyên đang làm nhiệm vụ tuần tra, thấy nghi vấn đã kiểm tra và phát hiện Ph đang tàng trữ 02 gói ma túy Heroine.
Công an huyện Bình Xuyên đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ: 02 gói nhỏ bằng mảnh giấy bạc, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng, có kích thước lần lượt (01x01) cm và (0,5x01) cm để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long tại túi quần phía trước bên phải dạng mặc trên người Lò Văn Ph. Vật chứng được niêm phong theo quy định ký hiệu A.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Bình Xuyên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn Ph ở TDP V, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên đến ma túy.
Các kết luận giám định:
Tại Bản kết luận giám định số 790/KLGD-KTHS ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1660g (không kể bao bì) loại Heroine. Hoàn trả 0,1403g mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ699”.
Tại Bản kết luận giám định số 834/KLGD-KTHS ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu của Lò Văn Ph. Sau giám định đã hoàn trả 0,00ml mẫu và tòa bộ bao gói được niêm phong theo quy định.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 104/CT-VKSBX ngày 18 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố Lò Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lò Văn Ph đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, sau khi xét hỏi bị cáo đã luận tội đối với bị cáo Lò Văn Ph, giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn Ph từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một): Mẫu trả gồm 0,1403g (Không phẩy một bốn không ba gam) mẫu cùng toàn bộ bao gói hoàn trả lại sau giám định theo Kết luận giám định số 790/KLGD-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- 01 (Một): Mẫu trả gồm 0,00ml (Không phẩy không không mi li lít) mẫu cùng toàn bộ bao gói hoàn trả lại sau giám định theo Kết luận giám định số 834/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lò Văn Ph là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản ở địa phương nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Bình Xuyên lập hồi 12 giờ 40 phút ngày 23/3/2023, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng vật chứng thu giữ được của bị cáo; quyết định giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 12 giờ 20 ngày 23/3/2023, tại khu vực ven đường Quốc lộ 2A thuộc địa phận tổ dân phố Kếu, thị trấn Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Lò Văn Ph đang có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,1660g, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Bình Xuyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng toàn bộ tang vật.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy đồng thời gây nên tình hình mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, vì vậy Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy; bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc.
Xét về nhân thân, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và các tình tiết tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, bản thân cũng là người lao động, chưa có tiền án, tiền sự gì. Do thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện, bị cáo trở thành đối tượng nghiện ma túy. Trong vụ án này bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,1660gam, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì trước cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Song dù có giảm nhẹ thì việc bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như trên là phù hợp, cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nêu trên về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng nam giới mà Ph khai rủ Ph đi mua ma túy về sử dụng cùng và bán ma túy cho Ph tại khu vực ngã tư TDP Kếu, thị trấn Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Ph không biết tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được danh tính nên không có cơ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn Ph 01 năm 06 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/3/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một): Mẫu trả gồm 0,1403g (Không phẩy một bốn không ba gam) mẫu cùng toàn bộ bao gói hoàn trả lại sau giám định theo Kết luận giám định số 790/KLGD-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- 01 (Một): Mẫu trả gồm 0,00ml (Không phẩy không không mi li lít) mẫu cùng toàn bộ bao gói hoàn trả lại sau giám định theo Kết luận giám định số 834/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
(Vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng và tài sản giữa Công an huyện Bình Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên ngày 06/6/2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lò Văn Ph phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Bình Xuyên; - Công an huyện Bình Xuyên; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Thanh |