vanban.org

Bản án 97/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1, khoản 3 Điều 57; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Thạch Hoàn T.

Tuyên bố bị cáo Thạch C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Thạch Hoàn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Thạch C 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1, khoản 3 Điều 57; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Thạch Hoàn T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 57 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HS-ST
Ngày 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Nguyễn Văn Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Thạch C, sinh năm 2001 tại Trà Vinh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Khơme; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Thạch Thị D; có vợ Thạch Thị Như Ý và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 5 năm 2023 cho đến nay, có mặt.

2. Thạch Hoàn T, sinh năm 2002 tại Trà Vinh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Khơme; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Bô N và bà Thạch Thị Thanh N1; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 5 năm 2023 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thạch Hoàn T và Thạch C đều là bạn bè quen biết nhau và đều là những đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp.

Khoảng cuối tháng 4 tháng 2023, T liên lạc với C qua ứng dụng Zalo nhờ C mua dùm ma túy, C đồng ý. Tuy nhiên, C không có xe và ở xa nên C không mua. Ngày 08 tháng 5 năm 2023, T tiếp tục liên lạc với C nhờ mua dùm 300.000 đồng ma túy dạng đá thì C đồng ý. Do C không có tiền mua ma túy nên T chuyển cho C số tiền 700.000 đồng, trong đó gồm 300.000 đồng tiền mua ma túy và tiền còn thừa coi như T trả công cho C trong việc mua ma túy và đem đến cho T. Sau đó, C ra tiệm điện thoại rồi liên lạc lại với T để T chuyển tiền. T sử dụng tài khoản MOMO của mình chuyển vào tài một tài khoản MOMO tên Dang T1 Ai Ha số tiền 700.000 đồng. Sau đó, C rút được 640.000 đồng (do bị trừ phí rút tiền hết 60.000 đồng). Sau khi rút được tiền, C đến khu vực chợ Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước gặp một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Mua xong, C định đem ma túy xuống cho T nhưng do trời mưa nên C hẹn trong ngày 09 tháng 5 năm 2023 sẽ đem gói ma túy này xuống. Sau đó, C chụp hình gói ma túy gửi cho T và nói cho T biết gói ma túy này với giá 400.000 đồng nhằm mục đích hưởng lợi chênh lệch thêm 100.000 đồng vì C sợ Tân lấy lại tiền thừa.

Chiều ngày 09 tháng 5 năm 2023, Thạch Hoàn T và Thạch C trao đổi, gửi vị trí chỗ ở cho nhau để C đem ma túy giao cho T. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, C điều khiển xe môtô biển số 84G1-619.07 đến khu vực thuộc ấp D, xã T thì bị lực lượng Công an xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương kiểm tra hành chính và phát hiện trong túi quần trước bên phải có một gói thuốc lá nhãn hiệu “Jet” bên trong gói thuốc lá có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chứa tinh thể màu trắng C khai nhận là ma túy dạng đá đang trên đường đi giao cho T nên Công an xã T bắt người phạm tội quả tang đối với C. Qua lời khai của C và chứng cứ thu thập được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B kết hợp Công an xã T tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với T.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 (một) gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy thu của Thạch C (C khai nhận là ma túy đá mua dùm và đang đem đi giao cho T);

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số: 84G1-61907, số khung: RLCUE3710LY088284, số máy: E32VE172139;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 8601460415235 đã qua sử dụng thu của Thạch C;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng, số IMEI 357233099321099 đã qua sử dụng thu của Thạch Hoàn T;

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số: 88/QĐ, trưng cầu Phòng K (PC09) - Công an tỉnh B giám định thành phần và trọng lượng chất màu trắng đã thu giữ trong vụ án. Ngày 17 tháng 5 năm 2025, Phòng K (PC09) Công an tỉnh B ra Kết luận giám định số: 259/KL-KTHS(MT), kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1333 gam. H lại đối tượng sau giám định được niêm phong: 0,0653 gam.

Khi C mua ma túy giúp T, T hứa hẹn sẽ trả tiền công cho C. Tuy nhiên, C mua ma túy giá 300.000 đồng sau đó báo cho T biết gói ma túy có giá 400.000 đồng nhằm hưởng lợi 100.000 đồng. Vì vậy, có thể xác định hành vi của Thạch C là bán ma túy cho T đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi của Thạch H1 T gửi tiền cho Thạch C mua ma túy. Vì vậy, đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 92/CTVKSBB ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Thạch Hoàn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố bị cáo Thạch C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Thạch Hoàn T với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Thạch C với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số: 84G1-61907, số khung: RLCUE3710LY088284, số máy: E32VE172139 do Thạch Chi đứng tên chủ sở hữu, Chi dùng xe mô tô này làm công cụ phương tiện để phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 8601460415235 đã qua sử dụng thu của Thạch C, C sử dụng làm công cụ phương tiện để phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng, số IMEI 357233099321099 đã qua sử dụng thu của Thạch Hoàn T, T sử dụng làm công cụ phương tiện để phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 340.000 đồng còn lại khi T gửi C mua ma túy, đề nghị C nộp lại để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy cho Thạch C. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo Thạch C: Hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ăn năn và hối hận, bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật để bị cáo có cơ hội sớm được trở về hòa nhập với xã hội.

Bị cáo Thạch Hoàn T: Hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ăn năn và hối hận, bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật để bị cáo có cơ hội sớm được trở về hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch C đã thành khẩn khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo Thạch Hoàn T đã thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại ấp D, xã T, huyện B bị cáo C có hành vi bán ma túy cho bị báo T. Do đó, hành vi của bị cáo C có đủ cơ sở kết luận phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo T đã thoả thuận mua và địa điểm giao ma túy để sử dụng, bị cáo T đã chuyển tiền, T đã cố ý thực hiện tội phạm tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không thực hiện được đến cùng vì nguyên nhân ngoài ý muốn của T nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, lượng ma túy T mua có trọng lượng 0,1333 gam ma túy loại Methamphetamine. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phạm tội thuộc trường hợp theo khoản 1, 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy, các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Đồng thời, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây hệ quả xấu cho con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác. Về nhận thức, các bị cáo biết được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là trái quy định của pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài và thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số: 84G1-61907, số khung: RLCUE3710LY088284, số máy: E32VE172139 do Thạch Chi đứng tên chủ sở hữu, 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 8601460415235 đã qua sử dụng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng, số IMEI 357233099321099 đã qua sử dụng thu của Thạch Hoàn T là công cụ phương tiện các bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 340.000 đồng còn lại khi T gửi C mua ma túy, Hội đồng xét xử buộc C nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với khối lượng ma túy loại Methamphetamine sau giám định là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng được nên Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy theo quy định.

Đối với nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy cho Thạch C. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1, khoản 3 Điều 57; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Thạch Hoàn T.

Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Thạch C.

Các Điều 106, 292, 293, 299 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Thạch C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Thạch Hoàn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thạch C 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Thạch Hoàn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 259/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong Quyết định trưng cầu giám định số: 88 ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương) có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Thạch C, Thạch Hoàn T (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D1 (bên trả mẫu), Nguyễn Đức N2 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K, Công an tỉnh B. Khối lượng mẫu niêm phong: 0,0653 gam, loại Methamphetamine.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số: 84G1-61907, số khung: RLCUE3710LY088284, số máy: E32VE172139; màu vàng đen; dung tích xi lanh: 110,3 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI 8601460415235, màn hình bị nứt (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng, số IMEI 357233099321099 đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Các bị cáo Thạch C và Thạch Hoàn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ