- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hàn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hàn Q; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2023/HS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hàn Q.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN ¯¯¯¯¯¯¯¯¯ | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2023/HS-PT Ngày: 08-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Khánh
Các Thẩm phán:Ông Trần Văn Quán
Bà Huỳnh Thị Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Nhật Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 84/2023/TLPT-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Hàn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2023/HS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hàn Q, sinh năm 1999, tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hùng H và bà Trần Thị Kim O; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 03/02/2019, bị Công an huyện T xử phạt 750.000 đồng về hành vi đánh nhau, đã thi hành xong ngày 07/11/2020; Bị cáo bị b t tạm giam t ngày 16 tháng 9 năm 2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:
- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị gồm: Lê Thành P, Lê Tấn Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trần Thị Ngọc V, Nguyễn Tùng L, Lê Văn L1, Mai Hữu Đ1, Mai Đức C, Huỳnh Thanh M, Huỳnh Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Bị cáo P và Q là những người nghiện ma túy. Để có tiền mua ma túy sử dụng, nên P và Q rủ nhau góp tiền mua ma túy về chia ra để bán và sử dụng. Vào khoảng 19 giờ ngày 13/9/2022, Q gọi điện thoại rủ P góp tiền mỗi người 1.000.000đồng để mua ma túy và P đồng ý. Sau đó P gọi điện thoại cho Đ hỏi mua 2.000.000đồng ma túy, Đ kêu P đến nhà để Đ dẫn đi mua. Nghe vậy, P gọi điện thoại kêu Q đến nhà đón P để cả hai cùng đi. Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66M1-532.15 chở P đi gặp Đ.
Sau khi P và Q đến nhà, Đ liên lạc với một người phụ nữ tên Trang M1 qua mạng xã hội Zalo thỏa thuận mua 2.000.000đồng ma túy đá giúp cho P, người này đồng ý bán và hẹn giao nhận tại nơi ở thuộc huyện T, tỉnh Long An. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 62P1-225.96 dẫn đường đi đến địa điểm hẹn. Khi đến thành phố T thì P d ng lại không đi cùng mà kêu Q đi với Đ. Đ chở Q đến nơi, Q đưa cho Đ 2.000.000đồng, Đ gọi Trang Moon thì có một người phụ nữ giao cho Đ 01 gói ma túy, Đ đưa lại người này 2.000.000đồng rồi giao ma túy cho Quốc giữ. Trước khi quay về, Q nhận được tin nh n t P kêu đưa cho Đ 200.000đồng, Quốc dúi tiền vào túi quần Đ rồi Đ chở Q quay về thành phố T gặp P. Q đưa gói ma túy cho P giữ rồi chở P phòng trọ của ông Lê Văn L1 tại thành phố T để ngủ nhờ qua đêm. Hôm sau trên đường quay về thì P chia gói ma túy ra thành 02 gói bằng nhau, P giữ 01 gói, đưa cho Q giữ gói còn lại.
Vào lúc 11 giờ 20 phút ngày 15/9/2022, P bán 01 gói ma túy cho Nguyễn Tùng L với giá 200.000đồng tại một quán giải khát cặp Quốc lộ F thuộc ấp E, xã T, huyện M, khi v a giao ma túy và nhận tiền xong thì lực lượng Công an thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phối hợp Công an huyện M b t giữ quả tang cùng tang vật.
Quá trình điều tra P khai nhận, ngoài lần bán ma túy cho L bị b t quả tang thì P còn thực hiện 03 lần bán ma túy trước đó, gồm:
Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 3 năm 2022, Nguyễn Tùng L gọi điện thoại cho P hỏi mua 200.000 đồng ma túy để sử dụng, P đồng ý bán và đã giao ma túy, nhận tiền tại địa điểm gần nhà nghỉ K cặp Quốc lộ F thuộc Ấp E, xã T.
Lần thứ hai: Cùng khoảng thời gian bán ma túy cho L, Mai Hữu Đ1 gọi điện thoại cho P hỏi mua 200.000 đồng ma túy để sử dụng, P đồng ý bán và đã giao ma túy, nhận tiền ở trước nhà của P.
Lần thứ ba: Vào khoảng tháng 3 năm 2022, Mai Đức C gọi điện thoại cho P hỏi mua 200.000 đồng ma túy để sử dụng, P đồng ý bán và đã giao ma túy, nhận tiền trước nhà của P.
Tương tự như P, sau khi mua ma túy về Q cũng chia nhỏ ra bán lẻ lại cho các đối tượng nghiện. Vào ngày 14 và ngày 15/9/2022, Q đã hai lần bán ma túy cho Huỳnh Thanh M, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào tối ngày 14/9/2022, Huỳnh Thanh M gọi điện thoại cho Q hỏi mua 300.000 đồng ma túy để sử dụng. Q đồng ý bán và hẹn địa điểm giao nhận trên lộ cặp kênh C thuộc xã T, huyện T, tỉnh Long An. Mông đến điểm hẹn gặp Q nhận 01 gói ma túy nhưng xin nợ tiền rồi mang ma túy về nhà sử dụng hết.
Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/9/2022, M tiếp tục gọi điện thoại hỏi mua 500.000 đồng ma túy, Q đồng ý bán và hẹn địa điểm giao ở bờ ruộng v ng người thuộc Ấp A, xã T, huyện T. Mông đến địa điểm hẹn nhận 01 gói ma túy t Q, tiếp tục xin nợ tiền mua rồi mang ma túy về sử dụng hết.
Tang vật thu giữ:
Thu giữ của P: 03 gói ni long hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể r n màu tr ng (nghi là ma túy) trong bóp đen ở túi quần sau bên phải; 01 gói ni long hàn kín chứa nhiều tinh thể r n màu tr ng (nghi là ma túy) bên trong ốp lưng điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đen ở túi quần trước bên trái; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng trên tay phải.
Thu giữ của Nguyễn Tùng L: 01 gói ni long hàn kín bên trong chứa nhiều tinh thể r n màu tr ng (nghi là ma túy) ở túi quần bên phải phía trước.
Qua khám xét khẩn cấp nơi ở của P, thu giữ các đồ vật gồm: 01 bóp da màu đen được thu tại vị trí đầu giường bên trái trong phòng ngủ bên trong có: 01 ống hút thủy tinh dài 14cm và 01 ống hút thủy tinh dài 11cm, đường kính 06mm; 02 đoạn ống hút nhựa dài 21cm; 01 đoạn ống hút nhựa dài 09cm; 01 đoạn ống hút nhựa dài 4,6cm; 01 đoạn ống hút nhựa dài 5,2cm; 01 đoạn ống hút nhựa dài 1,8cm; 05 túi ni long kích thước 03cm x 03cm; 01 ống kim loại kích thước 07cm x 3,5cm; 01 ống kim loại kích thước 03cm x 02cm; thu tại vị trí sát vách bên phải của nhà bếp 01 cái kéo dài 18cm, lưỡi kéo dài 05cm; 01 quẹt gas có g n ống kim loại dài 07cm, đường kính 02mm.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ thu giữ: 01 gói ni long hàn kín bên trong chứa nhiều tinh thể r n màu tr ng (nghi là ma túy) được thu trên đầu tủ lạnh phía sau phòng ngủ; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng bên trong có g n sim số 0862777072 và 0923952619.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Q thu giữ: 01 cân điện tử màu bạc, ký hiệu NOTLEGALFOR TRADE đặt trên thùng nhựa màu đỏ trên tủ gỗ bên trong phòng ngủ; 01 nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) đã qua sử dụng kích thước 8,5cm bên trong có chứa tinh thể màu tr ng (nghi là ma túy) đặt trong tủ quần áo.
Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Rena6 màu tr ng xanh có g n 02 sim số 0337421483 và 0946688435; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA loại Exciter màu xanh tr ng biển kiểm soát 66M1-532.15 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 047728 mang tên Đoàn Ngô Quốc T. Thu giữ của Lê Tấn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOZZA, màu đen biển kiểm soát 62P1-225.96 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Văn H2.
Tại bản kết luận giám định số 874/KL-KTHS ngày 20/9/2022 và bản kết luận giám định số 876/KL- KTHS ngày 19/9/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh L đã kết luận:
Tinh thể r n đựng trong 01 gói ni long hàn kín hai đầu thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của bị cáo Đ gửi giám định là không đủ cơ sở để kết luận có phải là ma túy hay không, có khối lượng 2,0041 gam, hoàn trả mẫu giám định có khối lượng 1,1575 gam.
Tinh thể r n màu tr ng ẩm ướt đựng trong 01 ống thủy tinh thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của bị cáo Q gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít, không hoàn mẫu do đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Tinh thể r n màu tr ng đựng trong 01 gói ni long hàn kín hai đầu thu giữ của ông Nguyễn Tùng L trong lúc b t quả tang gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0273 gam, không hoàn mẫu do đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Tinh thể r n màu tr ng chứa trong 01 gói ni long hàn kín hai đầu thu giữ trong ốp lưng điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen khi b t quả tang bị cáo P gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0908 gam, không hoàn mẫu do đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Tinh thể r n màu tr ng chứa trong 03 gói ni long hàn kín hai đầu thu giữ trong bóp đen ở túi quần sau bên phải của bị cáo P khi b t quả tang gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,4152 gam. Hoàn trả mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,3061 gam.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSMH ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Hóa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa để xét xử bị cáo Lê Thành P và Nguyễn Hàn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Tấn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2023/HS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An đã quyết định:
1. Về tội danh:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 và khoản 3 Điều 17 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Thành P và Nguyễn Hàn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251 và khoản 3 Điều 17 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 3 Điều 17, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành P 09 (chín) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính t ngày 15 tháng 9 năm 2022.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 3 Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hàn Q 08 (tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính t ngày 16 tháng 9 năm 2022.
Căn cứ khoản 1 Điều 251, khoản 3 Điều 17, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ 05 (năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính t ngày 16 tháng 9 năm 2022.
Căn cứ khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 17 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Lê Thành P và Nguyễn Hàn Q mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), xử phạt bổ sung bị cáo Lê Tấn Đ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về các biện pháp tư pháp, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023, bị cáo Nguyễn Hàn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hàn Q th a nhận hành vi phạm tội đúng như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, không oan. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về hình thức và thủ tục kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hàn Q trong thời gian luật định, những yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lê Thành P và Nguyễn Hàn Q có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo Lê Tấn Đ có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, do đó cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Nguyễn Hàn Q như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Q có người thân (ông cố) là liệt sĩ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 08 năm tù là tương xứng với hành vi mà bị cáo thực hiện.
Sau khi vụ án xét xử bị cáo Nguyễn Hàn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Qua nghiên cứu hồ sơ nhận thấy, ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng, bị cáo kháng cáo bổ sung tình tiết bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm là các tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi bị b t về hành vi mua bán trái phép chất ma túy cùng với P thì bị cáo còn tự thú các hành vi bán ma túy cho Huỳnh Thanh M sử dụng nên bị cáo được hưởng tình tiết tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
T những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hàn Q, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2023/HS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử phạt bị cáo Nguyễn Hàn Q t 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Hàn Q kháng cáo trong thời hạn luật quy định nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/9/2022, các bị cáo P và Q cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng và bán lại cho người khác, được sự giúp sức của bị cáo Đ nên các bị cáo P và Q đã mua ma túy với số tiền 2.000.000 đồng của người phụ nữ tên Trang M1 tại địa bàn huyện T, sau đó các bị cáo P và Quốc chia ma túy thành 02 phần bằng nhau mỗi bị cáo giữ 01 phần. Số ma túy trên các bị cáo P và Q chia nhỏ ra để sử dụng và bán lại cho những người khác, cụ thể bị cáo P đã bán 01 lần cho Nguyễn Tùng L vào ngày 15/9/2022, bị cáo Q đã bán 02 lần cho Huỳnh Thanh M vào ngày 14/9/2022 và ngày 15/9/2022. Ngoài ra vào tháng 3/2022, bị cáo P cũng mua ma túy về sử dụng và đã bán ma túy cho Nguyễn Tùng L 01 lần, cho Mai Hữu Đ1 01 lần, cho Mai Đức C 01 lần.
Hành vi của các bị cáo Lê Thành P và Nguyễn Hàn Q có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo Lê Tấn Đ có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Q như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có người thân (ông cố) là liệt sĩ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 08 năm tù là đúng người, đúng tội, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
Xét kháng cáo của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hàn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp các tình tiết như bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 14/7/2023), bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm (do cha bị cáo nộp thay theo biên lai thu ngày 31/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa) là các tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng.
Ngoài ra, sau khi bị b t về hành vi mua bán trái phép chất ma túy cùng với P thì bị cáo còn tự thú các hành vi bán ma túy cho Huỳnh Thanh M sử dụng nên bị cáo được hưởng tình hưởng tình tiết tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Hàn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hàn Q; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2023/HS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hàn Q.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hàn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 17; Điều 38; Điều 50 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hàn Q 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính t ngày b t tạm giam là ngày 16 tháng 9 năm 2022.
Áp dụng Điều 347 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hàn Q 45 (bốn mươi lăm) ngày kể t ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
Căn cứ khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 17 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hàn Q 10.000.000 đồng.
Chuyển số tiền 10.000.000 đồng (do cha bị cáo là ông Nguyễn Hùng H nộp thay bị cáo Q) theo biên lai thu số 0002712 ngày 31/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An sang khoản phải thi hành án, bị cáo Q đã nộp xong số tiền phạt bổ sung.
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Hàn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - CQĐT Công an huyện; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Khánh |