vanban.org

Bản án 97/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương thị Ng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương thị Ng. H được ly hôn anh lê. tr. th. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương thị Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hứa Thị Hoàng

2. Ông Lưu Văn Quân

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Bình– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Ông Lê Kim Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 54/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương thị Ng. H, sinh năm: 2001.

Địa chỉ: thôn Phú Bông, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Bị đơn: Anh lê. tr. th, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Thôn Phú Bông, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Quảng Nam

(Chị Huyền có mặt, anh Thông vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/02/2023, quá trình hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương thị Ng. H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương thị Ng. H và anh lê. tr. th tự nguyện kết hôn lần đầu vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã Duy Trinh. Vợ chồng chung sống đến giữa năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống, anh thông không có trách nhiệm với vợ con, không tôn trọng vợ, chỉ toàn tâm toàn ý với bạn bè xã hội, mặc dù chị Huyền khuyên bảo nhưng anh Thông không nghe, đến tháng 12 năm 2020 thì anh Thông bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Quảng Nam vì hành vi phạm tội, chị Huyền thấy hôn nhân không hạnh phúc. Nay, chị Huyền không còn tình cảm với anh Thông nữa nên yêu cầu được ly hôn với anh Thông.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là lê. tr. K.H, sinh ngày 23/01/2021. Chị Huyền yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Thông cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại văn bản trả lời ý kiến ngày 08/5/2023, bị đơn anh lê. tr. th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị Huyền trình bày là đúng. Anh Thông cho rằng vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì. Lý do chị Huyền yêu cầu ly hôn là do anh bị bắt tạm giam từ tháng 12 năm 2020 vì hành vi giết người và hủy hoại tài sản, chị Huyền quen người khác. Do đó anh Thông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Thông thống nhất vợ chồng có một con chung là lê. tr. K.H, sinh ngày 23/01/2021. Nếu ly hôn, anh Thông yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị Huyền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện các thủ tục tố tụng, xác định tư cách tố tụng theo đúng quy định của pháp luật; thời hạn chuẩn bị xét xử, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn. Hội đồng xét xử thực hiện các hoạt động tố tụng tại phiên tòa đúng quy định. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trương thị Ng. H, cho chị Huyền được ly hôn với anh lê. tr. th.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu lê. tr. K.H, sinh ngày 23/01/2021 cho chị Huyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Huyền không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập xem xét.

Các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án gồm: Bản tự khai của chị Trương thị Ng. H; Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Căn cước công dân chị Trương thị Ng. H; Bản sao Giấy khai sinh cháu lê. tr. K.H; văn bản trình bày ý kiến và đơn xin vắng mặt của anh lê. tr. th.

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Tất cả các tài liệu, chứng cứ trên.

Các tình tiết mà các bên đã thống nhất:

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Không yêu cầu giải quyết.

Các tình tiết mà các bên không thống nhất:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huyền cương quyết xin ly hôn. Anh Thông không đồng ý ly hôn.

Về quan hệ con chung: Chị Huyền và anh Thông không thỏa thuận được việc nuôi dưỡng con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh lê. tr. th có đơn xin vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh lê. tr. th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương thị Ng. H và anh lê. tr. th kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Duy Trinh vào năm 2020 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn do anh Thông không có trách nhiệm với vợ con, tháng 12/2020 anh Thông bị bắt tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật. Thời gian anh Thông bị bắt chị Huyền mang thai được 08 tháng, và trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến nay. Do đó anh Thông không làm cho hôn nhân của vợ chồng được hạnh phúc. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm với nhau. Tuy nhiên cho đến nay chị Huyền vẫn cương quyết ly hôn anh Thông. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương thị Ng. H, cho chị Huyền được ly hôn với anh lê. tr. th.

Về con chung: Chị Huyền và anh Thông đều có yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy, cháu lê. tr. K.H, sinh ngày 23/01/2021 chưa đủ 36 tháng tuổi, rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Bản thân chị Huyền có thu nhập ổn định, đảm bảo được việc nuôi con và hiện nay chị là người đang nuôi con. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Trương Khả Hân cho chị Huyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Do chị Huyền không yêu cầu anh lê. tr. th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Trương thị Ng. H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tó tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định: “Về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương thị Ng. H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương thị Ng. H được ly hôn anh lê. tr. th.

2. Về con chung:

Giao cháu lê. tr. K.H, sinh ngày 23/01/2021 cho chị Trương thị Ng. H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Chị Trương thị Ng. H cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh lê. tr. th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trương thị Ng. H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Huyền đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 2420 ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên. Chị Huyền đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trương thị Ng. H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/5/2023). Thời hạn kháng cáo của anh lê. tr. th là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ