- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Tuấn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2022/HSST Ngày 27-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ;
Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng T, sinh năm 1997 tại H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn G, xã L, thị xã L1, tỉnh T; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng P và bà Nguyễn Thị D; tiền án; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam từ ngày 22 tháng 5 năm 2022 cho đến nay; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Nông Văn H1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trọng T là đối tượng sử dụng ma túy từ đầu năm 2022. Vào lúc 13 giờ 00 ngày 22 tháng 5 năm 2022, Lê Văn K đang điều khiển xe máy có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma tuý nên Công an xã P, huyện PG, tỉnh Bình Dương mời K về làm việc. Qua làm việc K khai nhận đang trên đường đi mua ma tuý của Nguyễn Trọng T ở ấp 3, xã H, huyện B, tỉnh D về sử dụng. Trên cơ sở đó Công an huyện PH phối hợp với Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B khám xét khẩn cấp phòng trọ số 12 của T tại ấp 3, xã H, huyện B, tỉnh D thì phát hiện 02 gói giấy bạc chứa chất tinh thể màu trắng để bên trong nệm nằm ngủ, 01 cục chất màu trắng để trên mặt giấy trắng phía trên la-va-bô nhà vệ sinh, 01 gói nilon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng dạng tinh thể để trên mặt đồng hồ nước phía trước phòng trọ số 12 (là phòng trọ của T, T thừa nhận tất cả đều là ma tuý Heroin và ma tuý tổng hợp của mình) và 01 ít chất trắng rơi vãi trên đầu nệm nằm ngủ (T không thừa nhận là ma tuý) cùng một số tang vật liên quan đến việc sử dụng ma tuý. Lực lượng Công an huyện Bàu Bàng tiến hành bắt khẩn cấp Nguyễn Trọng T và tạm giữ: 01 bịch nilon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1); 01 giấy màu vàng trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M2); 02 miếng giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M3 và M4); 01 miếng giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M5); 01 dao lam; 01 kéo loại nhỏ; 01 căn cước công dân tên Nguyễn Trọng T; 03 bật lửa; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh số IMEI 1: 354898081303488, IMEI 2: 354898081303496 có gắn sim số (tất cả đều của Nguyễn Trọng T).
Ngày 22 tháng 5 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện PH, tỉnh D ra Quyết định trưng cầu giám định số 69 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh D giám định thành phần và trọng lượng chất màu trắng, chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Trọng T.
Tại Bản kết luận điều tra số 236/MT-PC09 ngày 30 tháng 5 năm 2022 kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,0897 gam (M1), loại Methamphetamine; Mẫu chất màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,363 gam (M2) tìm không thấy các tiền chất và các chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Chính phủ; Mẫu chất màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,3855 gam (M3), 0,2275 gam (M4), 0,1075 gam (M5) loại Heroine.
Qua quá trình làm việc Nguyễn Trọng T thừa nhận 01 bịch nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp và 03 gói ma tuý loại Heroin, được T mua vào trưa ngày 22 tháng 5 năm 2022 của một đối tượng (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực chợ Phú Chánh với giá là 1.200.000 đồng, rồi về để sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện ma túy. T khai nhận vào ngày 14 tháng 5 năm 2022, T đã bán ma tuý cho Nông Văn Hợp 01 lần với giá 200.000 đồng tại phòng trọ của T, ngoài ra T không bán cho ai khác.
T khai nhận thu nhập bất chính từ việc bán ma túy trên là 200.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với Lê Văn K và Nông Văn H1 có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” Cơ quan Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt hành số 59/QĐ-XPHC ngày 01 tháng 6 năm 2022, xử phạt 1.500.000 đồng đối với K và Quyết định xử phạt hành số 60/QĐ-XPHC ngày 01 tháng 6 năm 2022 xử phạt 1.500.000 đồng đối với H1.
Đối với đối tượng bán ma túy cho T (không rõ họ tên, địa chỉ) hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đang xác minh làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Thu giữ vật chứng gồm:
+ 0,0712 gam (M1) ma tuý loại Methamphetamine; 0,3146 gam (M3), 0,1738 gam (M4) và 0,0735 gam (M5) cùng là ma túy loại Heroine; 0,0214 gam (M2) tìm không thấy các tiền chất và các chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của chính phủ được hoàn lại sau khi giám định.
+ 01 điện thoại di động Nokia màu xanh số IMEI 1: 354898081303488, IMEI 2: 354898081303496 có gắn sim số do Nguyễn Trọng T làm chủ sở hữu.
+ 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng T.
+ 01 dao lam;
+ 01 kéo loại nhỏ;
+ 03 bật lửa;
Qua quá trình điều tra Nguyễn Trọng T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập có được trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 77/CT–VKS-BB ngày 06 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ghi số 236/PC09 có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có chữ ký của Nguyễn Trọng T (người chứng kiến), Trần Hoàng Huy (Bên giao mẫu), Trần Hoàng Minh (bên nhận mẫu) bên trong có chứa 0,0712 gam (M1) ma túy loại Methaphetamine và 0,3146 gam (M3), 0, 1738 gam (M4), 0,0735 gam (M5) cùng là ma túy loại Heroin và 0,0214 gam (M2) tìm không thấy các tiền chất và các chất ma túy không nằm trong danh mục quản lý của Chính phủ.
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 dao lam; 01 kéo loại nhỏ; 03 bật lửa.
- Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh số IMEI 1: 354898081303488, IMEI 2: 354898081303496 có gắn sim số do Nguyễn Trọng T làm chủ sở hữu, đây là công cụ, phương tiện T dùng vào việc phạm tội
- Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng T là tài sản của T, không sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 01 tháng 8 năm 2022 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Trọng T.
- Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải nộp số tiền 200.000 đồng từ việc bán ma túy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, luận tội của Viện kiểm sát.
Bị cáo trình bày lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng. Do vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 22 tháng 5 năm 2022, bị cáo Nguyễn Trọng T mua 0,0897 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,7205 gam ma túy loại Heroine của đối tượng (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực Chợ Phú Chánh, xã Tân Bình, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về cất dấu để sử dụng và bán ma túy cho các đối tượng nghiện ma túy. Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2022 đến ngày 22 tháng 5 năm 2022, bị cáo T đã bán ma tuý cho Nông Văn Hợp 01 lần vào ngày 14 tháng 5 năm 2022 với giá 200.000 đồng tại phòng trọ của bị cáo T ở ấp 3, xã Hưng Hoà, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Thu nhập bất chính từ việc bán ma tuý cho Nông Văn Hợp là 200.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là mầm mống phát sinh ra các tệ nạn xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết mua bán trái phép các chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Trọng T không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng (Thương binh 4/4), bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xử lý vật chứng: Đối với 0,0712 gam (M1) ma túy loại Methaphetamine và 0,3146 gam (M3), 0, 1738 gam (M4), 0,0735 gam (M5) cùng là ma túy loại Heroin là vật cấm tàng trữ và 0,0214 gam (M2) tìm không thấy các tiền chất và các chất ma túy không nằm trong danh mục quản lý của Chính phủ chứa trong 01 bì thư niêm phong ghi số 236/PC09 có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có chữ ký của Nguyễn Trọng T (người chứng kiến), Trần Hoàng Huy (Bên giao mẫu), Trần Hoàng Minh (bên nhận mẫu) không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. 01 dao lam (đã qua sử dụng); 01 kéo loại nhỏ (đã qua sử dụng); 03 bật lửa (đã qua sử dụng) không có giá trị nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu xanh số IMEI 1: 354898081303488, IMEI 2: 354898081303496 có gắn sim số do Nguyễn Trọng T làm chủ sở hữu là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng T là tài sản của T, không sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 01 tháng 8 năm 2022 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Trọng T là đúng quy định pháp luật.
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 251; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Trọng T.
Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
Căn cứ vào Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 260, Điều 268, Điều 269 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22 tháng 5 năm 2022.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) M1 ma túy loại Metham phetamine có khối lượng 0,0712 gam; 01 (một) M3 khối lượng 0,3146 gam, 01 (một) M4 khối lượng 0, 1738 gam; 01 (một) M5 khối lượng 0,0735 gam ma túy loại Heroin; 01 (một) M2 khối lượng 0,0214 gam được đựng trong 01 bì thư niêm phong ghi số 236/PC09, có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương có chữ ký của Nguyễn Trọng T (người chứng kiến), Trần Hoàng Huy (Bên giao mẫu), Trần Hoàng Minh (bên nhận mẫu); 01 (một) dao lam (đã qua sử dụng); 01 (một) kéo loại nhỏ (đã qua sử dụng); 03 (ba) bật lửa (đã qua sử dụng).
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh số IMEI 1: 354898081303488, IMEI 2: 354898081303496 có gắn sim số
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng ngày 31 tháng 8 năm 2022).
2. Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải nộp ngân sách nhà nước 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền thu lợi từ việc bán ma túy.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |