vanban.org

Bản án 97/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T:

1 Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty Cổ phần cà phê T 7.824 kg cà phê quả tươi còn nợ của 04 niên vụ (2018-2019, 2019-2020, 2020-2021, 2021-2022). Quy ra trị giá bằng tiền là 80.819.341đồng (tám mươi triệu tám trăm mười chín nghìn ba trăm bốn mươi mốt đồng). 2 Buộc ông Nguyễn Đức H phải nộp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T:
  • Căn cứ chính? Luật Đất đai; Thông tư số 102/2006/TT-BNN Hướng dẫn một số điều của Nghị đ…; Điều 10 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP Về việc giao khoán đất nông nghi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2022/DS-ST
Ngày 28-9-2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng
giao khoán và yêu cầu bồi thường
thiệt hại về tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hường, bà Nguyễn Thị Lan.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Lường, chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 244/2022/TLST-DS ngày 18/5/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2022/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2022/QĐST-DS ngày 22 tháng 9 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần cà phê T (trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê T).

Địa chỉ: Km 17, Quốc lộ 26, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoàng Phúc, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T: Ông Phạm Đình B, sinh năm 1957 (Theo giấy uỷ quyền số 93/GUQ ngày 15/4/2022).

Địa chỉ: 65 T, phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H. Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Đình B trình bày:

Vào ngày 12/4/2017, Ông Nguyễn Đức H có đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên gửi Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty Cổ phần cà phê T) để nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê vối trồng năm 1985 của Công ty có diện tích 10.000m2. Trên cơ sở đơn của Ông H, vào ngày 13/4/2017 giữa Ông H và Công ty đã ký Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 48/2017/HĐ-GK với nhau.

Theo hợp đồng số 48/2017/HĐ-GK ngày 13/4/2017 thì: Ông Nguyễn Đức H đã nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê vối của Công ty có diện tích 10.000m2, diện tích bờ lô 1.452m2. Địa điểm đất giao khoán thuộc đội N, thửa đất số 75, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nội dung giao khoán được nêu rõ tại Điều 1 của hợp đồng đó là: “1. Bên A khoán gọn vườn cây cà phê cho bên B trực tiếp đầu tư, chăm sóc, bảo vệ, thu hoạch và giao nộp sản phẩm cà phê”. Nguyên giá vườn cây khi nhận khoán có giá là: 38.703.316 đồng. Giá trị vườn cây còn lại: 8.244.280 đồng. Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ góp 49%. Thời hạn giao khoán là 05 năm, tính từ ngày ký kết hợp đồng. Mức giao khoán hằng năm Ông Nguyễn Đức H phải nộp về Công ty theo thoả thuận trong Hợp đồng giao khoán. Cụ thể: niên vụ 2017-2018 đến 2021-2022 nộp 2.389 kg cà phê quả tươi/1 niên vụ tương ứng với 5,25 tạ cà phê nhân/ha/1 niên vụ. Từ khi nhận khoán vườn cây đến niên vụ 2017-2018, Ông H đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện nghĩa vụ giao nộp sản phẩm đầy đủ theo hợp đồng đã ký với Công ty.

Tuy nhiên, từ niên vụ 2018-2019 đến niên vụ 2021-2022 Ông H đã không thực hiện nghĩa vụ giao nộp sản phẩm cà phê quả tươi cho Công ty theo đúng cam kết trong hợp đồng. Hiện ông còn nợ sản lượng cà phê quả tươi Công ty của 04 niên vụ (2018-2019, 2019-2020, 2020-2021, 2021-2022) là 7.824 kg. Chất lượng cà phê: Tỷ lệ cà phê quả chín: ≥ 85%; Tỷ lệ cà phê quả vàng: ≤ 12%; Tỷ lệ cà phê quả xanh: ≤ 3%; Tỷ lệ tạp chất: ≤ 0,5%.

Đối với tiền thuê đất phần 49% của ông nộp cho Công ty theo hợp đồng thì ông chưa nộp, hiện ông vẫn còn nợ tiền thuê đất phần 49% của ông (thời gian từ năm 2015-2021) và truy thu tiền thuê đất phần 49% của ông từ năm 2006-2010 theo hợp đồng hợp tác đầu tư và phân chia sản phẩm số 258/HĐHTĐT ngày 01/9/1998 mà ông với Công ty đã thực hiện với nhau và chấm dứt vào năm 2010 (sau đó chuyển sang khoán gọn và ông ký hợp đồng khoán gọn theo hợp đồng số 48/2017/HĐ-GK ngày 13/4/2017), thời gian truy thu tiền thuê đất từ năm 2006-2010 của Ông Nguyễn Đức H được thực hiện theo Thông báo của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk. Tổng số tiền thuê đất Ông H phải nộp về Công ty phần 49% của ông cho Công ty là 6.987.025 đồng. Cụ thể: Truy thu tiền thuê đất từ năm 2006-2010 là 584.754 đồng, truy thu tiền thuê đất từ năm 2015-2017 là 2.397.968 đồng, trả tiền thuê đất các năm: năm 2018 là 1.102.630 đồng, năm 2019 là 1.101.345 đồng, năm 2020 là 1.100.164 đồng, năm 2021 là 1.100.164 đồng.

Do Ông H không nộp sản lượng cà phê theo cam kết tại hợp đồng cho Công ty, không nộp tiền thuê đất phần 49% của ông cho Công ty và ông tự ý cắt cây muồng của Công ty. Do đó, Công ty đã khởi kiện Ông Nguyễn Đức H đến Tòa án, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết:

1. Tuyên chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 48/2017/HĐ-GK giữa Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty Cổ phần cà phê T) với Ông Nguyễn Đức H. Buộc Ông Nguyễn Đức H phải trả lại toàn bộ đất, vườn cây cà phê cho Công ty Cổ phần cà phê T với diện tích 10.000m2, diện tích bờ lô 1.452m2, tại thửa 75, tờ bản đồ số 15, thuộc đội Nam Thắng 2, Địa chỉ thửa đất: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo GCNQSDĐ số K239519, do UBND tỉnh Đắk Lắk cấp cho Công ty Cổ phần cà phê T vào ngày 16/5/1997. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa số 67 (người nhận khoán ông Nguyễn Đức D); Phía Nam giáp thửa số 80 (người nhận khoán ông Nguyễn Hữu T); Phía Đông giáp thửa số 74 (người nhận liên kết ông Lê Văn S); Phía Tây giáp thửa số 76 (người nhận khoán bà Hoàng Thị L).

2. Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty Cổ phần cà phê T 7.824 kg cà phê quả tươi còn nợ của 04 niên vụ (2018-2019, 2019-2020, 2020-2021, 2021-2022). Giá trị tạm tính tương ứng là: 70.024.800 đồng.

3. Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty Cổ phần cà phê T tiền thuê đất về Công ty phần 49% để Công ty nộp cho Cục thuế tỉnh Đắk Lắk là 6.987.025 đồng.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, thì vào ngày 28/7/2022 Công ty có khởi kiện bổ sung đối với ông Nguyễn Đức H, yêu cầu ông bồi thường 100% trị giá của 73 cây muồng đen trồng năm 1985 (cây muồng đen Công ty trồng để che bóng, chắn gió cho vườn cây) do ông tự ý tự ý chặt phá khai thác cây muồng đen trái phép, thiệt hại do hành vi khai thác 73 cây muồng trồng năm 1985 trái phép chiếm đoạt toàn bộ khối lượng gỗ tròn là 61,74m3 cụ thể: Các biên bản v/v tự ý cắt hạ cây muồng đen lập lúc 14h00 ngày 27/6/2022 là 45 cây, khối lượng 39,20m3. Biên bản lập lúc 9h00 ngày 28/6/2022 là 28 cây, khối lượng 22,54 m3.

Việc làm này của ông H là vi phạm hợp đồng đối với công ty xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi ích hợp pháp và tài sản của công ty vì những lý do trên công ty làm đơn khởi kiện bổ sung đối với ông Nguyễn Đức H ra trước Tòa án, đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Đức H phải bồi thường thiệt hại phải bồi thường thiệt hại do hành vi chặt phá, chiếm đoạt cây muồng đen Công ty trồng để che bóng chắn gió cho vườn cây là 73 cây muồng trồng năm 1985, khối lượng gỗ là 61,74m3, thành tiền (61,74m3x 3.600.000đồng/m3 = 222.264.000đồng).

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T chỉ yêu cầu ông H bồi thường 70% giá trị cây muồng đã chặt hạ, nguyên đơn rút 30 % giá trị cây muồng, không yêu cầu ông H phải bồi thường.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Đức H: Trong quá trình giải quyết vụ án ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai của ông.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với tài sản tọa lạc trên các diện tích đất mà ông Nguyễn Đức H nhận khoán của Công ty. Tuy nhiên, việc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản không thực hiện được, với lý do người dân tại xã Hòa Đông tập trung đông người và cản trở không cho Cán bộ Tòa án vào vườn cây để xem xét, thẩm định tại chỗ và không cho Hội đồng định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Tòa án đã làm việc và yêu cầu nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T cung cấp cho Tòa án về số liệu cây trồng, vật, kiến trúc trên đất mà ông Nguyễn Đức H đã nhận khoán của Công ty theo Hợp đồng số 48/2017/HĐ-GK ngày 13/4/2017 tại thửa đất số 75 tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 26/8/2022, Tòa án đã nhận được Công văn của Công ty Cổ phần cà phê T về việc cung cấp số liệu cây trồng, vật kiến trúc trên đất mà ông Nguyễn Đức H nhận khoán của Công ty theo hợp đồng khoán gọn đã ký. Dựa trên kết quả kiểm đếm số lượng vườn cây do Công ty Cổ phần cà phê T cung cấp. Ngày 06/9/2022, Hội đồng định giá tài sản đã tiến hành định giá theo quy định của pháp luật. Tại phiên họp kiểm tra giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải Ông H vắng mặt nhưng không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Thành phần Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đúng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Đối với bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do là vi phạm quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 388, 390, 392, 412, 414, 501, 502, 503, 506, 507, 508, 510, 511 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 7, 8, 9, 10, 12 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ; Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Luật đất đai năm 2003.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T:

1.1 Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty Cổ phần cà phê T 7.824 kg cà phê quả tươi còn nợ của 04 niên vụ (2018-2019, 2019-2020, 2020-2021, 2021-2022) Quy ra trị giá bằng tiền là 80.819.341đồng (tám mươi triệu tám trăm mười chín nghìn ba trăm bốn mươi mốt đồng).

1.2 Buộc ông Nguyễn Đức H phải nộp tiền thuê đất phần 49% của ông cho Công ty Cổ phần cà phê T (truy thu tiền thuê đất từ năm 2006-2010, năm 2015-2017; trả tiền thuê đất từ năm 2018-2021) với tổng số tiền là 6.987.025 đồng (sáu triệu, chín trăm tám mươi bảy nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng).

1.3 Buộc ông Nguyễn Đức H phải bồi thường cho Công ty Cổ phần cà phê T thiệt hại do hành vi tự ý cắt, hư hại 73 cây muồng đen trồng năm 1985 phần 70% của Công ty với số tiền là 199.667.160 đồng (một trăm chín mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm sáu mươi đồng).

1.4 Chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 48/2017/HĐ-GK ngày 13/4/2017 đã ký kết giữa Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty Cổ phần cà phê T) với ông Nguyễn Đức H.

Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả toàn bộ đất và vườn cây cà phê với diện tích 10.000m2, diện tích bờ lô 1.452m2, tại thửa 75, tờ bản đồ số 15, thuộc đội Nam Thắng 2, Địa chỉ thửa đất: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo GCNQSDĐ số K 239519, do UBND tỉnh Đắk Lắk cấp cho Công ty Cổ phần cà phê T vào ngày 16/5/1997. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa số 67 (người nhận khoán ông Nguyễn Đức D); Phía Nam giáp thửa số 80 (người nhận khoán ông Nguyễn Hữu T); Phía Đông giáp thửa số 74 (người nhận liên kết ông Lê Văn S); Phía Tây giáp thửa số 76 (người nhận khoán bà Hoàng Thị L).

Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả lại cho Công ty Cổ phần cà phê T toàn bộ tài sản được trồng và tạo dựng trên diện tích đất mà ông đã nhận khoán của Công ty, bao gồm: 1039 cây cà phê vối trồng năm 1985; 35 cây sầu riêng DoNa ghép trồng năm 2020.

Công ty Cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại giá trị vườn cây trên đất cho ông Nguyễn Đức H với tổng số tiền là: 72.278.246 đồng (bảy mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng). Bao gồm: 49% trị giá cây cà phê là 58.822.246 đồng; 100% trị giá của cây sầu riêng là 13.456.000 đồng.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần cà phê T về việc Công ty không yêu cầu ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty trị giá của cây muồng đen phần 30% còn lại với số tiền là 85.571.640 đồng. Công ty được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định của pháp luật.

3. Về chí phí tố tụng và án phí: Buộc ông Nguyễn Đức H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn thì Hội đồng xét xử xác định đây là Tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản. Bị đơn ông Nguyễn Đức H có địa chỉ tại xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Bị đơn ông Nguyễn Đức H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng ông vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Qua xem xét Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 48/2017/HĐ-GK ngày 13 tháng 4 năm 2017 giữa Công ty TNHH MTV cà phê T với ông Nguyễn Đức H thì thấy: Đây là hợp đồng song vụ có thời hạn, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng các bên đều hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; về nội dung cũng như hình thức của hợp đồng hai bên đã ký kết không vi phạm pháp luật nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Mặt khác, trong quá trình thực hiện hợp đồng giao khoán, ông H đều đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp sản phẩm theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký kết với Công ty kể từ lúc ký kết cho đến hết niên vụ cà phê 2017-2018. Do đó, việc thỏa thuận giữa Công ty với ông Nguyễn Đức H tại Hợp đồng số 48/2017/HĐ-GK ngày 13/4/ 2017 là căn cứ để giải quyết vụ án và là chứng cứ không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty Cổ phần cà phê T 7.824 kg cà phê quả tươi còn nợ của 04 niên vụ (2018-2019, 2019-2020, 2020-2021, 2021-2022). Hội đồng xét xử thấy: theo điểm c khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng khoán gọn đã ký thì bên B (ông H) có nghĩa vụ “Thực hiện nộp sản lượng cho bên A theo quy định”.

Quá trình giải quyết vụ án ông H không hợp tác làm việc. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào hợp đồng mà Ông H và Công ty đã xác lập với nhau, cùng các tài liệu chứng cứ kèm lời khai do Công ty cung cấp để xem xét. Cụ thể: căn cứ bảng kê chi tiết công nợ của Công ty thể hiện từ niên vụ 2018-2019 đến niên vụ 2021-2022 Ông H chưa đóng sản lượng cà phê quả tươi cho Công ty là 7.824 kg, cụ thể: niên vụ năm 2018-2019 là 657 kg cà phê quả tươi, niên vụ 2019-2020 là 2.389kg cà phê quả tươi, niên vụ 2020-2021 là 2.389kg cà phê quả tươi, niên vụ 2021-2022 là 2.389kg cà phê quả tươi. Như vậy, việc ông H không đóng sản lượng cho Công ty đã vi phạm Điều 3 của hợp đồng giao khoán đã ký kết. Do đó, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T, buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty Cổ phần cà phê T 7.824 kg cà phê quả tươi còn nợ của 04 niên vụ là có căn cứ cần chấp nhận. Giá tại thời điểm xét xử (28/9/2022) là: 47.000đồng/kg (1 kilôgam cà phê nhân = 4,55 kilôgam cà phê tươi). Thành tiền là: (7.824 kg : 4,55 kg) x 47.000đồng/kg = 80.819.341đồng.

Xét yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Đức H phải nộp tiền thuê đất phần 49% của ông cho Công ty Cổ phần cà phê T với tổng số tiền là 6.987.025 đồng (truy thu tiền thuê đất từ năm 2006-2010 và năm 2015-2017; trả tiền thuê đất từ năm 2018-2021). Hội đồng xét xử thấy: tại điểm g khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng khoán gọn đã ký kết giữa Công ty với ông Nguyễn Đức H quy định về nghĩa vụ của bên B thì bên B có nghĩa vụ: “Nộp tiền thuê đất, thuế đất nông nghiệp cho nhà nước, theo tỷ lệ 51-49%, phần bên B 49% nộp vào tháng 11 trong năm thông qua bên A”. Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 2015-2021 ông H chưa nộp tiền thuê đất cho Công ty để Công ty thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê đất vào Ngân sách nhà nước theo quy định.

Theo tài liệu chứng cứ do Công ty cung cấp thì: Tại thông báo số 43/CT-THNVDT ngày 08/01/2018 của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk về việc truy thu tiền thuê đất đã miễn sai đối tượng theo kết luận Kiểm toán Nhà nước thì từ năm 2006-2010 (05 năm) tiền thuê đất được tính 1.042.067 đồng/1ha; Thông báo số 802/TB-CT ngày 24/04/2018 của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk về việc nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước + Thông báo số 984/TB- CT ngày 07/05/2019 của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk về việc nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước thì: năm 2015 tiền thuê đất được tính 699.849 đồng/1ha, từ năm 2016 đến 2017 tiền thuê đất được tính 1.786.739 đồng/1ha/năm, từ năm 2018 đến 2019 tiền thuê đất được tính 1.786.748 đồng/1ha/năm; Thông báo số 0695 ngày 23/3/2020 về việc nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước năm 2020 của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk thì năm 2020 tiền thuê đất được tính 1.785.408 đồng/1ha; Thông báo số 1252 ngày 29/4/2021 về tiền thuê đất theo hình thức nộp hằng năm của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk thì năm 2021 tiền thuê đất được tính 1.785.408 đồng/1ha. Như vậy, căn cứ theo các thông báo thuế nêu trên, tiền thuê đất ông H phải có nghĩa vụ nộp căn cứ vào diện tích nhận khoán và diện tích bờ lô mà ông đã nhận khoán để nộp tiền thuê đất và Công ty khởi kiện yêu cầu ông H phải nộp tiền thuê đất cho Công ty phần 49% số tiền 6.987.025 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Xét yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Đức H phải bồi thường giá trị cây muồng đen do hành vi tự ý chặt hạ, chiếm đoạt trái phép cho Công ty Cổ phần cà phê T, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng đã ký kết quy định về điều khoản cam kết chung thì: “Công ty thống nhất quản lý cây muồng đen hiện có trên lô cà phê giao khoán, nếu vì lý do quá dày rợp, già cỗi phải cắt tỉa hoặc khi vườn cây thanh lý thì công ty sẽ tổ chức kiểm kê, lập thủ tục bán theo phương thức đấu thầu…”. Quá trình làm việc tại Tòa án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án để ông đến Tòa án tham gia tố tụng theo nội dung khởi kiện bổ sung của nguyên đơn nhưng ông không đến để làm việc nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông về việc ông tự ý cắt, hư hại cây muồng của Công ty hay không. Do đó, Tòa án căn cứ vào hợp đồng mà Ông H và Công ty đã xác lập cùng các tài liệu chứng cứ và lời khai do Công ty cung cấp để xem xét và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty. Do Tòa án không tiến hành thẩm định tại chỗ được nên dựa vào số lượng cây do Công ty cung cấp đã xác định thiệt hại do hành vi tự ý cắt, hư hại 73 cây muồng đen trồng năm 1985 của Ông H theo kết quả định giá ngày 06/9/2022 có giá 285.238.800 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng số 48/2017/HĐ-GK ngày 13/4/2017 và tại mục 7.2.1.2 của Bảng phương án khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên đã được UBND tỉnh phê duyệt theo Quyết định số 1399/QĐ-UBND ngày 08/6/2011 quy định: “ Đối với cây muồng đen trồng trên lô cà phê từ năm 1992 trở về trước khi thanh lý chủ hộ được hưởng 30% tổng giá trị, công ty hưởng 70% tổng giá trị.”

Như vậy, đối với cây muồng đen được trồng năm 1985 nhằm mục đích: làm cây chắn gió và che bóng cho cây cà phê theo quy trình kỹ thuật. Hiện đã bị Ông H tự ý cắt, hư hại 73 cây (Công ty có lập biên bản) với tổng khối lượng gỗ là 61,74m3, có tổng trị giá là 285.238.800 đồng và căn cứ vào khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng để xem xét chia theo tỷ lệ 70%-30%. Do đó, phần 70% của Công ty là 199.667.160 đồng (tương ứng 70% x 285.238.800 đồng) và phần 30% của Ông H là 85.571.640 đồng (30% x 285.238.800 đồng).

Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty về việc buộc ông Nguyễn Đức H phải bồi thường cho Công ty Cổ phần cà phê T thiệt hại do hành vi tự ý cắt, hư hại cây muồng phần 70% của Công ty với số tiền là 199.667.160 đồng.

Đối với phần 30% còn lại với số tiền 85.571.640 đồng thì tại phiên tòa Công ty không yêu cầu ông Nguyễn Đức H phải bồi thường nữa và không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tiền này. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 85.571.640 đồng.

Công ty được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện về việc chấm dứt hợp đồng khoán gọn giữa ông Nguyễn Đức H với Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty Cổ phần cà phê T) theo hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 48/2017/HĐ-GK ngày 13/4/2017, Hội đồng xét xử thấy:

Tại điểm f khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng quy định về quyền và nghĩa vụ của bên A (Công ty TNHH MTV cà phê T) thì bên A có quyền “Hủy bỏ hợp đồng giao khoán, thu hồi diện tích giao khoán khi bên nhận khoán vi phạm hợp đồng…”. Và tại khoản 5 Điều 6 của Hợp đồng quy định về điều khoản cam kết chung có nêu “Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên B không hoàn thành chỉ tiêu giao nộp sản phẩm cà phê theo định mức hàng năm, thì bên A có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ và đơn phương chấm dứt hợp đồng giao khoán, thu hồi vườn cây cà phê giao khoán, tiến hành giao cho người khác hợp đồng”.

Như vậy, việc ông Nguyễn Đức H không đóng sản lượng cho Công ty, không nộp tiền thuê đất phần 49% của ông cho Công ty theo thỏa thuận và ông tự ý cắt, hư hại cây muồng đen của Công ty là vi phạm hợp đồng khoán gọn đã ký kết, đây là lỗi hoàn toàn thuộc về ông H nên Công ty có quyền chấm dứt hợp đồng giao khoán, thu hồi diện tích giao khoán. Căn cứ theo quy định tại Điều 511 của Bộ luật dân sự 2005 thì Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện chấm dứt hợp đồng, buộc ông H phải trả lại toàn bộ diện tích đất đã nhận khoán và diện tích đất bờ lô là đúng quy định của pháp luật. Cụ thể buộc ông Nguyễn Đức H trả lại cho Công ty Cổ phần cà phê T diện tích cà phê giao khoán 10.000m2, diện tích bờ lô 1.452m2, tại thửa 75, tờ bản đồ số 15, thuộc đội N, Địa chỉ thửa đất: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo GCNQSDĐ số K 239519, do UBND tỉnh Đắk Lắk cấp cho Công ty Cổ phần cà phê T vào ngày 16/5/1997. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa số 67 (người nhận khoán ông Nguyễn Đức D); Phía Nam giáp thửa số 80 (người nhận khoán ông Nguyễn Hữu T); Phía Đông giáp thửa số 74 (người nhận liên kết ông Lê Văn S); Phía Tây giáp thửa số 76 (người nhận khoán bà Hoàng Thị L).

- Về giải quyết hậu quả khi chấm dứt hợp đồng giao khoán:

Tại biên bản định giá tài sản ngày 06/9/2022 thì tổng giá trị tài sản trên đất (hiện có) gồm: cây cà phê, cây trồng khác (cây sầu riêng) trên đất có tổng trị giá là: 133.501.400 đồng (một trăm ba mươi ba triệu, năm trăm lẻ một nghìn, bốn trăm đồng); tổng giá trị của cây muồng đen đã bị ông Nguyễn Đức H tự ý cắt ngọn, hư hại (hiện không còn) theo xác định giá có trị giá là 285.238.800 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn, tám trăm đồng).

Theo quy định tại Điều 1 của Hợp đồng có nêu: “Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ góp 49%”. Mặt khác, hợp đồng giao khoán giữa ông H với Công ty hai bên không thỏa thuận về mức độ khấu hao của tài sản. Và tại khoản 1 Điều 6 của hợp đồng, khi chấm dứt hợp đồng giữa các bên thì Công ty Cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại cho ông H phần 70% trị giá cây muồng đen (đối với cây muồng đen trồng từ năm 1992 trở về trước). Vì vậy, khi buộc ông H trả lại vườn cây trên diện tích đất nhận khoán thì cần buộc Công ty Cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại giá trị vườn cây trên đất (cây cà phê) phần 49% cho ông H, đối với cây muồng đen trồng năm 1985 mà ông H đã tự ý cắt, hư hại đã được nêu tại mục [2.3] nên không đề cập. Vì vậy Công ty chỉ có trách nhiệm trả lại cho ông H phần 49% đối với cây cà phê.

Đối với các cây trồng khác là cây sầu riêng thì các tài sản này do ông tự trồng, trên diện tích đất nhận khoán (ngoài cây cà phê và cây muồng có trên đất theo hợp đồng) theo biên bản định giá ngày 06/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản, thì thấy: 35 cây sầu riêng DoNa ghép trồng năm 2020 có tổng trị giá là 13.456.000 đồng. Đối với các tài sản này ông H tự trồng trên đất không được phía Công ty đồng ý tuy nhiên hàng năm khi tiến hành kiểm tra vườn cây thì Công ty không lập biên bản vi phạm và cũng không có ý kiến gì đối với việc ông tự trồng cây trên đất. Vì vậy khi chấm dứt hợp đồng, Ông H trả lại vườn cây nhận khoán cho Công ty, thì Công ty phải trả lại toàn bộ phần giá trị tài sản cây trồng trên đất do ông đã tự đầu tư, tạo dựng gồm: 100% trị giá của cây sầu riêng với số tiền là 13.456.000 đồng. Cụ thể:

Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả lại cho Công ty Cổ phần cà phê T toàn bộ tài sản được trồng trên diện tích đất mà ông đã nhận khoán của Công ty, bao gồm: 1039 cây cà phê vối trồng năm 1985; 35 cây sầu riêng DoNa ghép trồng năm 2020.

Công ty Cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại giá trị vườn cây trên đất cho ông Nguyễn Đức H với tổng số tiền là: 72.278.246 đồng (bảy mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng). Bao gồm: 49% trị giá cây cà phê là 58.822.246 đồng (49% x 120.045.400 đồng); 100% trị giá của cây sầu riêng là 13.456.000 đồng.

Về các chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản là 9.100.000 đồng, số tiền này nguyên đơn đã nộp. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên căn cứ Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn ông Nguyễn Đức H phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản. Vì vậy, cần buộc ông Nguyễn Đức H phải thanh toán lại cho nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T số tiền 9.100.000 đồng, là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và 14.373.676 đồng án phí có giá ngạch, theo mức: (80.819.341đồng+ 6.987.025 đồng + 199.667.160 đồng ) x 5% = 14.373.676 đồng. Tổng cộng ông Nguyễn Đức H phải chịu 14.673.676 đồng (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần cà phê T số tiền 2.225.000 đồng (hai triệu, hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0016144, ngày 16/05/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần cà phê T số 5.556.600 đồng (năm triệu, năm trăm năm mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0016408, ngày 05/8/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 227, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 388, 390, 392, 412, 414, 501, 502, 503, 506, 507, 508, 510, 511 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 7, 8, 9, 10, 12 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Luật đất đai năm 2003.

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần cà phê T:

1.1 Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty Cổ phần cà phê T 7.824 kg cà phê quả tươi còn nợ của 04 niên vụ (2018-2019, 2019-2020, 2020-2021, 2021-2022). Quy ra trị giá bằng tiền là 80.819.341đồng (tám mươi triệu tám trăm mười chín nghìn ba trăm bốn mươi mốt đồng).

1.2 Buộc ông Nguyễn Đức H phải nộp tiền thuê đất phần 49% của ông cho Công ty Cổ phần cà phê T (truy thu tiền thuê đất từ năm 2006-2010, năm 2015-2017; trả tiền thuê đất từ năm 2018-2021) với tổng số tiền là 6.987.025 đồng (sáu triệu, chín trăm tám mươi bảy nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng).

1.3 Buộc ông Nguyễn Đức H phải bồi thường cho Công ty Cổ phần cà phê T thiệt hại do hành vi tự ý cắt, hư hại 73 cây muồng đen trồng năm 1985 phần 70% của Công ty với số tiền là 199.667.160 đồng (một trăm chín mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm sáu mươi đồng).

1.4 Chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 48/2017/HĐ-GK ngày 13/4/2017 đã ký kết giữa Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty Cổ phần cà phê T) với ông Nguyễn Đức H.

Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả toàn bộ đất và vườn cây cà phê với diện tích 10.000m2, diện tích bờ lô 1.452m2, tại thửa 75, tờ bản đồ số 15, thuộc đội Nam Thắng 2, Địa chỉ thửa đất: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo GCNQSDĐ số K 239519, do UBND tỉnh Đắk Lắk cấp cho Công ty Cổ phần cà phê T vào ngày 16/5/1997. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa số 67 (người nhận khoán ông Nguyễn Đức D); Phía Nam giáp thửa số 80 (người nhận khoán ông Nguyễn Hữu T); Phía Đông giáp thửa số 74 (người nhận liên kết ông Lê Văn S); Phía Tây giáp thửa số 76 (người nhận khoán bà Hoàng Thị L).

Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả lại cho Công ty Cổ phần cà phê T toàn bộ tài sản được trồng và tạo dựng trên diện tích đất mà ông đã nhận khoán của Công ty, bao gồm: 1039 cây cà phê vối trồng năm 1985; 35 cây sầu riêng DoNa ghép trồng năm 2020.

Công ty Cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại giá trị vườn cây trên đất cho ông Nguyễn Đức H với tổng số tiền là: 72.278.246 đồng (bảy mươi hai triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng). Bao gồm: 49% trị giá cây cà phê là 58.822.246 đồng; 100% trị giá của cây sầu riêng là 13.456.000 đồng.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần cà phê T về việc Công ty không yêu cầu ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty trị giá của cây muồng đen phần 30% còn lại với số tiền là 85.571.640 đồng.

Công ty được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định của pháp luật.

3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Công ty Cổ phần cà phê T 9.100.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí:

Ông Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và 14.373.676 đồng án phí có giá ngạch. Tổng cộng ông Nguyễn Đức H phải chịu 14.673.676 đồng (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần cà phê T số tiền 2.225.000 đồng (hai triệu, hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0016144, ngày 16/05/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần cà phê T số 5.556.600 đồng (năm triệu, năm trăm năm mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0016408, ngày 05/8/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ