- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị G và anh C"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; 227;228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2021/ST - HNGĐ Ngày 24/9/2021. “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Xuân Thanh;
2. Bà Trần Thị Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2021/TLST - HNGĐ ngày 12/7/2021 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXX - ST ngày 01 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lang Thị Ngọc G - sinh năm 1995.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1990. Đều có địa chỉ tại: Bản K, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Chị G có mặt, anh C vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 02/7/2021 của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Lang Thị Ngọc G trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau vào ngày 11/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không có con chung nên thường xuyên bất hòa, cãi cọ nhau, không hiểu và thông cảm cho nhau. Cũng vì thế mà anh C hay ghen tuông, ghi ngờ chị rồi lấy ly do đó để đánh đập chị. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị kéo dài từ năm 2018 đến năm 2020, chị cảm thấy cuộc sống chung của vợ chồng ngột ngạt, chung sống không hạnh phúc nên anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Mâu thuẫn đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay tình cảm vợ chồng thực sự không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: Quá trình chung sống chị G và anh C không có con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị G và anh C không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ anh chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Chung vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51,53,56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận đơn ly hôn của chị Lang Thị Ngọc G. Chị G và anh C chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; về án phí: Buộc chị Lang Thị Ngọc G phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn hiện cư trú tại bản K, xã M, huyện C nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, qua xác xác minh ngày 14/7/2021 tại Ban công an xã M, huyện C cho thấy anh Nguyễn Văn C có hộ khẩu thường trú tại bản K, xã M nhưng hiện nay anh không có mặt tại địa phương, đi đâu cũng không thông báo cho gia đình và chính quyền địa phương biết nên không biết địa chỉ hiện nay của anh C ở đâu. Như vậy. bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ - HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh C không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy chị Lang Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn C vào ngày 11/3/2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không có ai ép buộc, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh C là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cả hai thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn do không có con chung dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay và không còn liên lạc với nhau, như vậy chị G và anh C đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh C vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy quá trình kết hôn và chung sống tại địa phương giữa chị G và anh C xảy ra mâu thuẫn không thể giải quyết được. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị G và anh C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận cho chị Lang Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: Vợ chồng chị Lang Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn C không có con chung.
Về tài sản chung: Do chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lang Thị Ngọc G phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; 227;228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lang Thị Ngọc G được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 BLTTDS; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Lang Thị Ngọc G phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị G đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0004669 ngày 12/7/2021.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã M; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lữ Thị Dung |