- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lương B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lương B phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS TỈNH BN Bản án số: 97/2021/HSST Ngày 30/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS, TỈNH BN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thúy; ông Đỗ Đức Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thu Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh BN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh BN tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tá Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh BN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2021/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2021/QĐXXST- HS, ngày 16/3/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Lương B, sinh năm 1990 ( tên gọi khác: không)
HKTT: thôn NV, xã YP, huyện BM, tỉnh HG.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966; con bà: Lã Thị H, sinh năm 1965; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ 2. Có vợ là Nông Thị H, sinh năm 1994; có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BN (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 00 phút ngày 30/12/2020 tại thôn Phù Lộc, xã Phù Chẩn, thị xã TS, tỉnh BN, tổ tuần tra Công an xã Phù Chẩn, thị xã TS bắt quả tang Nguyễn Lương B, sinh năm 1990 có hành vi bán trái phép chất ma Ty cho 01 nam thanh niên tự khai là Nguyễn Văn T, sinh năm 1995, khai ở tại thôn DH, xã ĐĐ, huyện TD, tỉnh BN.
Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang:
- Thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 gói nhỏ được bọc ngoài B giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng một mặt ghi “XSMB: NA 16987561”, mặt còn lại ghi “XSMB: IR 17666402”.
- B tự nguyện giao nộp số tiền 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri NA 16987561 và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri IR 17666402 đang cầm trong lòng bàn tay trái
Tại bản Kết luận giám định số 104/KLGĐMT-PC09 ngày 01/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN, kết luận:
“ Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói nhỏ được bọc ngoài B giấy màu trắng có khối lượng 0,0826 gam; là ma Ty; loại ma Ty Heroine.”
Quá trình điều tra Nguyễn Lương B khai nhận: Do thường xuyên sử dụng trái phép chất ma Ty từ năm 2019 đến nay. Sáng ngày 30/12/2020, B thuê xe ôm đi đến phường Đình Bảng, thị xã TS, tỉnh BN mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến phường Đình Bảng, thị xã TS, B gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy được bọc ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được gói ma túy, B đi về xã Đại Đồng, huyện TD, sử dụng một phần, phần còn lại B cất giấu trong người. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, B đi bộ đến thôn Phù Lộc, xã Phù Chẩn, thị xã TS, tỉnh BN mục đích tìm nơi sử dụng ma túy thì gặp 02 nam thanh niên (sau này B biết tên là Nguyễn Văn T và anh Phạm Đức A, sinh năm 1999, HKTT: số 17 đường Trần Hưng Đạo, thành phố BN, tỉnh BN). T hỏi B nơi mua ma túy, B nảy sinh ý định bán ma túy cho T nên trả lời: “Anh có ma túy, em có mua không?”, T liền trả lời: “Anh bán cho em 300.000 đồng”. B đồng ý và lấy từ trong túi quần đang mặc ra 01 gói ma túy sử dụng còn thừa lúc trước đưa cho T. T cầm gói ma túy và đưa lại cho B 300.000 đồng thì có lực lượng công an đến kiểm tra, thu giữ, bắt quả tang, niêm phong vật chứng như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số: 47/Ctr- VKS ngày 15/3/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh BN truy tố Nguyễn Lương B về tội “Mua bán trái phép chất ma Ty” theo khoản 1 Điều 251 của BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Lương B thừa nhận có bán 01 gói ma túy được bọc ngoài là lớp giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine có khối lượng 0,0826 gam cho Nguyễn Văn T với giá 300.000 đồng mục đích kiếm lời là phạm tội. Bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS truy tố bị cáo tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh BN duy trì công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Xử phạt bị cáo từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/12/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định;.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
+ Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 mảnh giấy màu trắng một mặt ghi “XSMB: NA 16987561”, mặt còn lại ghi “XSMB: IR 17666402”.
Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ khẳng định: Hồi 13 giờ, ngày 20/12/2020 tại thôn Phù Lộc, xã Phù Chẩn, thị xã TS, tỉnh BN, Nguyễn Lương B đã có hành vi bán trái phép 0,0826 gam Heroine cho Nguyễn Văn T với giá 300.000 đồng nhằm mục đích kiếm lời. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạm vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội,ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy không chỉ gây tác hại đến sức khỏe, nhân cách con người, cản trở sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và ý thức được tác hại của ma túy, song với ý thức tư lợi, coi thường pháp luật bị cáo thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T nhằm kiếm lời bất chính. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng : Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với số tiền 300.000đ thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
+ Đối với 01 mảnh giấy màu trắng một mặt ghi “XSMB: NA 16987561”, mặt còn lại ghi “XSMB: IR 17666402”, đây là số sêri của tờ tiền mà T mua ma túy là vật chứng quan trọng của vụ án, cơ quan điều tra đã lưu trong hồ sơ vụ án là phù hợp .
[6] Liên quan trong vụ án còn có:
Liên quan trong vụ án có đối tượng Nguyễn Văn T, sau khi lực lượng Công an đưa về trụ sở làm việc, lợi dụng sơ hở của cán bộ trông giữ đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh BN nhưng không có đối tượng nào như T khai. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với anh Phạm Đức Anh là người đi cùng T khi T mua ma túy của B. Anh Đức A khai anh và T chỉ là bạn bè quen biết ngoài xã hội, khi đi cùng T chỉ nói nhờ chở đi đến xã Phù Chẩn, thị xã TS có việc, chỉ đến khi T mua ma túy và bị bắt thì anh mới biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý với anh Đức A là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho B ngày 30/12/2020 tại phường Đình Bảng, thị xã TS, tỉnh BN. B khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với người lái xe ôm chở B đi đến phường Đình Bảng, thị xã TS, tỉnh BN ngày 30/12/2020. B khai không biết người này là ai, khi đi cùng B không nói cho biết việc đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của B ngày 30/12/2020 tại xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh BN. Ngày 02/3/2021, Công an thị xã TS đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lương B phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự ; khoản 1 Điều 329; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Xử phạt: Nguyễn Lương B 27 ( Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/12/2020. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về vật chứng của vụ án: + Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 104/KLGĐMT-PC09 ngày 01/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh BN - VKS ND thị xã TS; - THADS thị xã TS; - Công an thị xã TS; - Bị cáo; đương sự: - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đã ký Nguyễn Thị Thu Hà |