vanban.org

Bản án 97/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 22/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18-4-2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2021/HS-ST
Ngày 22-9-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Văn Ninh

Bà Nguyễn Thị Lợi

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Sơn Lâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Cúc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2021/TLST- HS, ngày 06 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2021/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 8 năm 2021; Thông báo về việc chuyển ngày xét xử số 30/TB-TA ngày 25-8-2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2021/QĐ-TA ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Dương Văn T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1987 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C, sinh năm 1967 và bà Dương Thị L, sinh năm 1967; vợ: Dương Thị D, sinh năm 1989 và 01 con sinh năm 2013; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2014/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội Buôn lậu, bị cáo đã chấp hành xong đã được xóa án tích, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 18-4-2021, tạm giam từ ngày 21-4-2021 đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là đối tượng nghiện chất ma túy tổng hợp từ năm 2016. Ngày 14-3-2021, Dương Văn T một mình đến cửa khẩu H để thuê phòng trọ và tạm trú tại thôn N, xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 10-4-2021, thông qua ứng dụng Wechat, Dương Văn T dùng điện thoại của mình liên lạc với một người đàn ông Trung Quốc tên thường gọi là Q (không biết địa chỉ cụ thể), Dương Văn T quen người đàn ông này từ năm 2019 khi còn đi làm thuê tại Trung Quốc, và hỏi mua 07 gam Ketamine và 35 viên thuốc lắc (ma túy loại MDMA), Q đồng ý và thống nhất giá là 2.600NDT (hai nghìn sáu trăm nhân dân tệ).

Khoảng 22 giờ ngày 15-4-2021, Dương Văn T một mình đi từ phòng trọ theo đường mòn lên đỉnh đồi K thuộc thôn N, xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để mua chất ma túy, khi cách biên giới khoảng 20m, Dương Văn T gọi điện cho Q và nói do trời tối không biết đường nên đã đứng đợi ở đấy và dùng phần mềm Wechat gửi vị trí cho Q. Khoảng 40 phút sau Q đến, qua trao đổi Q đưa cho Dương Văn T 01 túi nilon màu đen, Dương Văn T nhận lấy ma túy và trả cho Q 2.600 NDT (hai nghìn sáu trăm nhân dân tệ), sau đó Dương Văn T đi theo đường mòn cũ để về phòng trọ. Sau khi về đến phòng, Dương Văn T lấy túi nilon chứa ma túy vừa mua được mở ra để kiểm tra thấy bên trong có 35 viên thuốc lắc và các túi nilon màu trắng chứa ma túy Ketamine, Dương Văn T lấy một ít ma túy Ketamine ra sử dụng bằng hình thức hít, sau đó Dương Văn T lấy 27 viên thuốc lắc cho vào 01 túi nilon màu trắng để trong lọ thủy tinh màu đen rồi cất ở phía sau viên gạch được sử dụng làm chân giường trong phòng của mình; 08 viên thuốc lắc để vào trong túi nilon màu trắng, 03 túi nilon màu trắng chứa ma túy Ketamine cất giấu ở trong lỗ của một viên gạch được sử dụng làm chân giường ngủ trong phòng; còn 03 túi nilon màu trắng chứa ma túy Ketamine còn lại Dương Văn T bọc bằng giấy vệ sinh và cất giấu trong lỗ của 01 viên gạch sử dụng làm chân giường ngủ trong phòng. Số ma túy này Dương Văn T cất giấu nhằm mục đích vừa sử dụng và bán kiếm lời, Dương Văn T dự định giá bán 01 viên thuốc lắc với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, 01 gam ma túy Ketamine bán với giá 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng.

Ngày 17-4-2021, Dương Văn T bị cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp về hành vi đưa người xuất cảnh trái phép. Cùng ngày, cơ quan An ninh điều tra ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn T, thu giữ tang vật gồm:

- 01 (một) lọ thủy tinh màu đen, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước 11,6 x 07cm chứa 27 viên nén màu vàng nhạt nghi là ma túy tổng hợp.

- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước 8,3 x 5cm bên trong có chứa 08 viên nén màu vàng nhạt nghi là ma túy tổng hợp; 02 (hai) túi nilon màu trắng kích thước 2,5 x 2,5cm.

- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước 3 x 3cm đều chứa các tinh thể màu trắng, nghi là ma túy dạng đá; 03 túi nilon màu trắng có kích thước lần lượt là 7,5 x 4cm; 3 x 3cm; 2,5 x 2,5cm bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy dạng đá, tất cả được bọc bằng một mẩu giấy vệ sinh màu trắng có kích thước 18 x 13cm.

- 01 (một) cân điện tử màu đen trên nắp có ghi chữ GHL POCKET SCALE cũ.

Ngày 19-4-2021, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với 35 viên nén màu vàng nhạt; 06 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các tinh thể màu trắng thu giữ của Dương Văn T khi khám xét khẩn cấp.

Tại Kết luận giám định số 159/KL-PC09 ngày 22-4-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: 35 viên nén màu vàng nhạt gửi giám định đều là chất ma túy MDMA, có tổng khối lượng 14,116 gam (đã trừ bì); chất tinh thể màu trắng đựng trong 06 túi nilon gửi giám định đều là chất ma túy Ketamine, có tổng khối lượng 6,519 gam (đã trừ bì).

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS, ngày 05-8-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và không khai báo bổ sung. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội bản thân đã thực hiện là rất nghiêm trọng vi phạm pháp luật, nhưng do bản thân nghiện ma túy để có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo đã mua 07 gam Ketamine và 35 viên thuốc lắc về sử dụng đồng thời bán lẻ ma túy cho những người nghiện để kiếm lời, tuy nhiên bị cáo chưa kịp bán được ma túy cho ai. Trong quá trình bị cáo bị tạm giam về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép bị cáo tự khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà bản thân đã thực hiện.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 10,543 gam chất ma túy MDMA (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) để trong 02 (hai) túi nilon (cũ), 6,041 gam chất ma túy Ketamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) để trong 06 (sáu) túi nilon (cũ) được đựng trong một hộp bìa cát tông (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới và 01 (một) lọ thủy tinh (cũ); 01 (một) gói giấy (loại giấy vệ sinh) cũ và 01 (một) cân điện tử màu đen, trên nắp có chữ GHL POCKET SCALE cũ.

Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Khi nói lời nói sau cùng bị cáo Dương Văn T xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, phù hợp với quy định của pháp luật Tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản khám xét ngày 17-4-2021; Kết luận giám định số 159/KL-PC09 ngày 22-4-2021; lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 15-4-2021, Dương Văn T một mình đi từ phòng trọ theo đường mòn lên đỉnh đồi K thuộc thôn N, xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để mua chất ma túy với một đối tượng tên Q (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 2.600 NDT (hai nghìn sáu trăm nhân dân tệ) gồm: 35 viên nén màu vàng là chất ma túy MDMA, có tổng khối lượng 14,116 gam (đã trừ bì); các túi nilon có chứa chất tinh thể màu trắng đều là chất ma túy Ketamine, có tổng khối lượng 6,519 gam, mục đích đem về vừa để sử dụng và bán cho nghiện để kiếm lời. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với bị cáo Dương Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng vì đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo đủ tuổi trưởng thành, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện ma túy và cần có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã phạm tội. Hiện nay việc đấu tranh phòng, chống ma túy là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội, do đó hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Dương Văn T cần phải được xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình bị tạm giam về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép bị cáo đã tự thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đã thực hiện; ngoài ra trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về nhân thân: Bị cáo đã có tiền án đã được xóa án tích, chưa có tiền sự nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Tại biên bản xác minh ngày 13-5-2021 và tại phiên tòa bị cáo khai bản thân không đứng tên tài sản gì có giá trị, bản thân bị cáo nghiện ma túy không có nghề nghiệp ổn định do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng tên Q đã bán ma túy cho bị cáo Dương Văn T tại đỉnh đồi K, thuộc thôn N, xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, do không rõ địa chỉ cụ thể và điều kiện về lãnh thổ nên cơ quan điều tra không đủ điều kiện xác minh làm rõ.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu tím xanh là chiếc điện thoại mà bị cáo Dương Văn T đã dùng để liên lạc, trao đổi mua bán chất ma túy với người đàn ông tên Q. Hiện nay chiếc điện thoại đang bị cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn tạm giữ vì có liên quan đến hành vi tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép mà cơ quan an ninh điều tra đang thụ lý điều tra.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 10,543 gam chất ma túy MDMA (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) để trong 02 (hai) túi nilon (cũ), 6,041 gam chất ma túy Ketamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) để trong 06 (sáu) túi nilon (cũ) được đựng trong một hộp bìa cát tông (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới và 01 (một) lọ thủy tinh (cũ); 01 (một) gói giấy (loại giấy vệ sinh) cũ và 01 (một) cân điện tử màu đen, trên nắp có chữ GHL POCKET SCALE cũ là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị và không sử dụng được theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, về việc xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18-4-2021.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 10,543 gam chất ma túy MDMA (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) để trong 02 (hai) túi nilon (cũ), 6,041 gam chất ma túy Ketamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) để trong 06 (sáu) túi nilon (cũ) được đựng trong một hộp bìa cát tông (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới và 01 (một) lọ thủy tinh (cũ); 01 (một) gói giấy (loại giấy vệ sinh) cũ và 01 (một) cân điện tử màu đen, trên nắp có chữ GHL POCKET SCALE cũ.

(Các vật chứng còn lại hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-8-2021).

4. Về án phí: Bị cáo Dương Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ