- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2021/HS-ST Ngày: 28/4/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Thúy
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Minh Phương
- Bà Đoàn Thị Loan
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà CaoThị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 28/4/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2021/TLST - HS ngày 17/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2021/QĐXXST – HS ngày 15/4/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn A; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21/9/1998 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối 1, thị trấn Diễn C, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1966; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; V , con: chưa c ; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. C mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1993
Trú tại: khối 1, thị trấn Diễn C, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969
Trú tại: khối 1, thị trấn Diễn C, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Trần Huy P, sinh năm 1976
Trú tại: x m 1, xã Diễn T, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/12/2020, khi đang ở nhà, Nguyễn Văn A gọi điện thoại cho một người đàn ông tên Út, ở x m Hải N, xã Diễn B, huyện D, tỉnh Nghệ An hỏi: “Anh có ma túy bán không, bán cho em ba trăm nghìn đồng?”,Út trả lời “Có” và hẹn A đến nhà để giao tiền lấy ma túy. Sau đ A điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát: 37P2-217.35 mư n của anh Nguyễn Văn Tr (anh trai A) đến nhà Út. Khi đi đến trước cổng nhà Út, A đưa cho Út 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), Út cầm tiền rồi chỉ vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng để ở mặt đường phía trước cổng nhà. Nguyễn Văn A đi lại cầm g i thuốc lá mở ra xem thấy bên trong c chứa 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong c chứa ma túy. A cầm g i ma túy trên tay rồi điều khiển xe máy đi về nhà để sử dụng. Khi đi đến khu vực cổng chào x m 1, xã Diễn T, huyện D thì bị Đồn công an Diễn Hải kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay trái Nguyễn Văn A 01 (một) túi nilon màu trắng, trên miệng túi c viền màu xanh, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen đỏ, trắng BKS: 37P2-217.35, qua xác minh chiếc xe trên là của anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1993, trú tại khối 1, thị trấn Diễn C, huyện D, tỉnh Nghệ An, là anh trai Nguyễn Văn A. Việc A sử dụng chiếc xe trên khi thực hiện hành vi phạm tội anh Tr không biết, vì vậy CQĐT Công an huyện Diễn Châu đã trả lại chiếc xe cho anh Tr.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng đã qua sử dụng; qua xác minh chiếc điện thoại trên là của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969, trú tại khối 1, thị trấn Diễn C, huyện D, tỉnh Nghệ An, là mẹ đẻ của Nguyễn Văn A. Việc A sử dụng điện thoại khi thực hiện hành vi phạm tội bà T không biết, vì vậy CQĐT Công an huyện Diễn Châu đã trả lại điện thoại cho bà T.
- 01 (một) phong bì thư bưu điện niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn A.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn A khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình, phù h p với tài liệu, chứng cứ thu thập đư c.
Tại Bản kết luận giám định số 55/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 25/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn A gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) c khối lư ng là 0,35 gam (Không phẩy ba mươi lăm gam)”.
Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS-DC ngày 15/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố Nguyễn Văn A về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại theo điểm c, khoản 1 Điều 249. Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau khi giám định thu giữ của Nguyễn Văn A.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính h p pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Diễn Châu, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đư c thực hiện h p pháp.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù h p với lời khai tại cơ quan điều tra, phù h p với các chứng cứ, tài liệu khác c tại hồ sơ vụ án thì đã c đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 22/12/2020, tại khu vực cổng chào thuộc x m 1, xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Đồn Công an Diễn Hải bắt quả tang Nguyễn Văn A đang c hành vi tàng trữ trái phép 0,35 gam (không phẩy ba mươi lăm gam) ma túy(Methamphetamine), số ma túy này bị cáo mua với giá 300.000 đồng để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường h p nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội vì vậy cần xét xử nghiêm minh và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã c thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: không c .
. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không c việc làm, không c tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen đỏ, trắng BKS: 37P2-217.35, qua xác minh chiếc xe trên là của anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1993, trú tại khối 1, thị trấn Diễn C, huyện D, tỉnh Nghệ An, là anh trai Nguyễn Văn A. Việc A sử dụng chiếc xe trên khi thực hiện hành vi phạm tội anh Tr không biết, CQĐT Công an huyện Diễn Châu đã trả lại chiếc xe cho anh Tr là c căn cứ.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng đã qua sử dụng; qua xác minh chiếc điện thoại trên là của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969, trú tại khối 1, thị trấn Diễn C, huyện D, tỉnh Nghệ An, là mẹ đẻ của Nguyễn Văn A. Việc A sử dụng điện thoại khi thực hiện hành vi phạm tội bà T không biết, CQĐT Công an huyện Diễn Châu đã trả lại điện thoại cho bà T là c căn cứ.
- Đối với 01 (một) phong bì thư bưu điện niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa số ma tuy còn lại sau khi giám định thu giữ của Nguyễn Văn A là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Trong vụ án này còn c người đàn ông tên Út là người bán ma túy cho Nguyễn Văn A (theo lời khai của A), tuy nhiêndo không xác định đư c tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không c căn cứ để xác minh, xử lý.
. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Văn A 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 22/12/2020).
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư đư c niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định.
(Vật chứng hiện đang lưu tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 03 năm 2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu và Chi cục THADS huyện Diễn Châu).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người c quyền l i nghĩa vụ liên quan vắng mặt c quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đươc bản án hoặc bản án đư c niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND h. Diễn Châu; - VKSND t. Nghệ An; - Công an; THA hình sự h. Diễn Châu; - Trại tạm giam; - Sở tư pháp t. Nghệ An; - Bị cáo, NLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Đức Thúy |