vanban.org

Bản án 97/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 03/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn Đ mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2021/HS-PT
Ngày 06 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Mai

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Bích Ngọc

Bà Nguyễn Thị Thu Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Đường Thái Sơn -Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 123/2021/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo Nguyễn Tuấn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2021/HS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn Đ; sinh ngày 10 tháng 6 năm 1997 tại tổ x, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Tổ x, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị Mai L; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Không. Tiền sự: Tại Quyết định số: 15/QĐ-TA ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên (nay là thành phố Phúc Yên) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn Đ, thời hạn 24 tháng. Ngày 28/10/2019 chấp hành xong.

- Quá trình hoạt động bản thân:

+ Ngày 10/7/2013, bị Công an phường Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 26/5/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000đồng về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ mà không có giấy phép”, Đ chưa chấp hành. Cơ quan công an Hện Mê Linh tiến hành làm việc, đôn đốc Đ nộp phạt lần cuối cùng ngày 15/6/2017 đến nay đã hết thời hiệu.

+ Ngày 26/6/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên (nay là thành phố Phúc Yên) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, ngày 28/10/2019 chấp hành xong, đến ngày 28/10/2021 mới được xóa.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc và có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phùng Văn D, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/4/2021, tại khu vực trước cổng Công ty H, thuộc tổ dân phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện bắt quả tang Nguyễn Tuấn Đ có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tự khai tên là Phùng Văn D, sinh năm 1990, trú tại: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/4/2021, Đ đi đến khu vực cổng Công ty H thì gặp bạn nghiện mới quen tự giới thiệu tên là H không biết họ tên, địa chỉ cụ thể. Tại đây, H rủ Đ xuống huyện G, thành phố Hà Nội mua ma túy tổng hợp để mang về thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc bán cho các đối tượng nghiện, Đ đồng ý. H thuê 01 chiếc taxi ở gần đó chở H và Đ đi xuống Hà Nội (Đ không để ý Biển kiểm soát, hãng xe taxi, không biết người lái xe là ai). Khi đi đến 01 khu chung cư thuộc huyện G, thành phố Hà Nội (Đ không chú ý tên gọi và địa chỉ của khu chung cư này), H bảo lái xe taxi dừng lại để H xuống xe đi vào trong khu chung cư. Một lúc sau, H quay ra, lên xe taxi rồi cùng Đ đi về thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Khi đi đến khu vực đèn tín hiệu giao thông gần cổng Công ty H, thuộc tổ dân phố X, phường P, thành phố P, H bảo lái xe taxi dừng lại, H trả tiền xe rồi cùng Đ xuống xe. H bảo Đ đứng đợi rồi H đi vào khu vực gần đó, một lát sau H điều khiển 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS: 88H1-xxx.xx đi ra (Đ không để ý nên không biết H đã lấy chiếc xe mô tô nêu trên ở đâu). H điều khiển xe mô tô chở Đ đi đến cổng Công ty H thì dừng lại. H đưa cho Đ 01 phong bì thư bằng giấy bên trong có 09 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo và 01 gói nilon chứa ma túy tổng hợp dạng ke, bảo Đ cầm đem đến bán cho Phùng Văn D, sinh năm 1990, trú tại: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đang đứng ở ven đường gần đó với giá 300.000 đồng/ 01viên ma túy tổng hợp dạng kẹo và 2.500.000 đồng/ 01 chỉ ma túy tổng hợp dạng ke. Đ đồng ý, cầm toàn bộ số ma túy nêu trên cất vào túi quần sau bên trái đang mặc rồi đi đến để bán cho D. Đ hỏi D “Muốn mua ma túy kẹo ke à?”, D trả lời “Vâng, anh bán ma túy kẹo ke với giá bao nhiêu tiền”, Đ nói “300.000 đồng/ 01 viên kẹo và 2.500.000 đồng/ 01 chỉ ke”. D đồng ý mua nhưng chưa kịp đưa tiền cho Đ và Đ cũng chưa kịp lấy ma túy ra bán cho D thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang về hành vi bán trái phép chất ma túy. Thấy Đ bị cơ quan Công an bắt giữ, H bỏ lại xe mô tô chạy thoát.

Trong giai đoạn điều tra Nguyễn Tuấn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với Phùng Văn D, sinh năm 1990, trú tại: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V có ý định mua ma túy của Đ để sử dụng nhưng chưa kịp mua thì bị phát hiện. Hành vi của D không cấu thành tội phạm, không đề cập xử lý về hình sự. Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập D để test kiểm tra chất ma túy đối với D nhưng D vắng mặt tại địa phương, chưa triệu tập làm việc được. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục triệu tập D để kiểm tra, xử lý sau.

Đối với người đàn ông tên là H, là người Đ khai đã đưa ma túy cho Đ đem bán, Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân của đối tượng có đặc điểm như Đ đã khai. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- Thu tại túi quần sau bên trái đang mặc của Nguyễn Tuấn Đ 09 viên nén màu xanh; 01gói nhỏ nilon màu trắng, bên trong chứa các tinh thể màu trắng đựng bên trong 01 phong bì thư bằng giấy (Đ khai là ma túy tổng hợp dạng kẹo, ke mang bán), được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 theo quy định.

- Tạm giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã cũ + số tiền 30.000 đồng, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho Đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Ngày 16/4/2021, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Bản kết luận giám định số 837/KLGĐ, kết luận:

“1.Tinh thể dạng đá màu trắng đục của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 3,5277g (Ba phảy năm hai bảy bảy gam, không kể bao bì), loại Ketamine.

2. 09 (Chín) viên nén hình chữ nhật màu xanh của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 4,0086 (Bốn phảy không không tám sáu gam, không kể bao bì), loại MDMA”.

Cơ quan giám định đã hoàn lại 3,4364 gam tinh thể màu trắng đục và 3,8788 gam viên nén hình chữ nhật màu xanh cùng toàn bộ bao gói (BL 39), cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS: 88H1-xxx.xx do đối tượng tên H bỏ lại. Quá trình điều tra đến nay chưa làm rõ được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phúc Yên giữ lại tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2021/HS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 4 năm 2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã cũ và số tiền 30.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy mẫu trả A1 = 3,8788 gam (Viên nén) và 3,4364 gam (Tinh thể dạng đá) cùng toàn bộ bao gói niêm phong sau giám định.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021, bị cáo Nguyễn Tuấn Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Hình phạt Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên áp dụng đối với bị cáo là nặng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2021/HS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Tuấn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản sự việc; biên bản thu giữ vật chứng; kết luận giám định của cơ quan cHên môn và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 12/4/2021, tại khu vực trước cổng Công ty H, thuộc tổ dân phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Tuấn Đ đang có hành vi đem bán ma túy có trọng lượng 3,5277 gam, loại Ketamine và 4,0086 gam, loại MDMA cho Phùng Văn D, nhưng chưa kịp bán thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét kháng cáo của bị cáo nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về nhân thân: Bị cáo Đ có 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính cụ thể: Ngày 10/7/2013, bị Công an phường Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 26/5/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ mà không có giấy phép”, Đ chưa nộp tiền phạt, cơ quan công an Hện Mê Linh tiến hành làm việc và đôn đốc Đ nộp phạt lần cuối cùng vào ngày 15/6/2017, đến nay đã hết thời hiệu. Ngoài ra, ngày 26/6/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên (nay là thành phố Phúc Yên) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, ngày 28/10/2019 chấp hành xong, đến ngày 28/10/2021 mới được xóa.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo không được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Đ mức án 06 năm tù “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 là phù hợp, đúng pháp luật, ề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để giảm hình phạt cho bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ. Giữ nguyên bản án hình sự phúc thẩm số 84/2021/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

1.Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Đ 06 (Sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 4 năm 2021.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ