vanban.org

Bản án 97/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 12/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2021/HSST ngày 14/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố ChL, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo như sau:

[2]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung K phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2021/HSST ngày 14/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố ChL, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2021/HS-PT
Ngày: 12-11-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Đăng Huy

Ông Vũ Thanh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Phạm Văn Vững - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2021/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Trung K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án sơ thẩm số 67/2021/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố ChL.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Trung K, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu dân cư ĐX, phường VĐ, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị Th; Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo tại ngoại, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị hại: Anh Vũ Đình H (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Vũ Đình H1, sinh năm 1979.

2. Bà Dương Thị H3, sinh năm 1980 (người đại diện theo ủy quyền của bà H2 là ông Vũ Đình H1),

Đều có địa chỉ: Khu dân cư HD, phường BT, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương (vắng mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Đình Đ, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn MTh, xã LS, huyện NgL, tỉnh Thanh Hóa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Những người làm chứng:

1. Chị Hoàng Thị H3, sinh năm 1982; Địa chỉ: Xã Duyên Hà, huyện DH, tỉnh Lào Cai.

2. Anh Đỗ Văn D, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Vĩnh Lâm, xã ML, thị xã KM, tỉnh Hải Dương.

3. Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn ThL, xã AS, thị xã ĐTr, tỉnh Quảng Ninh.

4. Anh Tăng Trọng H4, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn ThL, xã AS, thị xã ĐTr, tỉnh Quảng Ninh.

5. Anh Đặng Văn V, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn An Lĩnh, xã LL, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương.

6. Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 2000; Địa chỉ: Khu dân cư Lôi Động, phường CH, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương.

7. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1970; Địa chỉ: Khu dân cư ĐX, phường VĐ, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương.

(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).

Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/10/2020, sau khi ăn cơm, uống rượu tại quán ThL tại khu dân cư Lôi Động, phường CH, thành phố ChL. Nguyễn Trung K (không có giấy phép lái xe theo quy định và có nồng độ cồn trong máu là 137.5.mg/dl) điều khiển xe mô tô BKS: 34C1-134.59 (là xe của ông Nguyễn Văn S - bố đẻ Kiên) chở anh Vũ Đình H, sinh năm 1998, trú tại: KDC HD, phường BT, thành phố ChL đi từ quán ăn ra Quốc lộ 37 đi về hướng SĐ - LL. Khi đi đến đoạn Km 88+600, Quốc lộ 37, thuộc địa phận khu dân cư BĐ- TT, phường CH, thành phố ChL, tỉnh Hải Dương, K điều khiển xe đi vào vị trí giữa phần đường sau đó di chuyển lấn sang phần đường của xe ngược chiều. Đây là đoạn đường có đặc điểm được trải nhựa rộng 6 mét, hai bên đường là lề đất, mặt đường không có vạch kẻ đường để phân chia làn đường, phần đường xe chạy. Phần đầu bên trái xe mô tô BKS: 34C1-134.59 do K điều khiển đã va chạm với phần bánh bên trái thứ hai của xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-338.82, kéo romooc BKS:15R-093.55 do anh Vũ Đình Đ, sinh năm 1990, trú tại: Thôn MTh, xã LS, huyện NgL, tỉnh Thanh Hóa (anh Đ có giấy phép lái xe hạng FC, số 310163847201, có giá trị đến 21/6/2022) điều khiển đi hướng ngược chiều, đi đúng phần đường, đúng tốc độ và khi phát hiện xe ngược chiều đi với tốc độ nhanh về hướng đầu xe mình, anh Đ đạp phanh, đánh tay lái sang phải và dừng xe. Hậu quả Nguyễn Trung K và anh Vũ Đình H ngã xuống đường. Anh H bị chấn thương sọ não được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Việt Đức đến ngày 20/10/2020 thì chết. K bị thương tích 53%, xe mô tô hư hỏng thiệt hại là: 950.000đồng. Qua khám nghiệm hiện trường xác định: xe ô tô BKS: 15C-338.82, kéo romooc BKS:15R-093.55 đang dừng ở mép đường bên phải theo hướng đi, đầu xe hướng SĐ, đuôi xe chếch hướng LL, tâm trục bánh cuối cùng đầu kéo cách mép đường bên phải 4m90, tâm trục bánh thứ nhất và thứ ba bên trái romooc cách mép đường bên phải lần lượt là 3m90 và 3m60. Cách vị trí bánh sau cùng bên trái romooc 1m80 phát hiện xe mô tô BKS: 34C1-134.59 đổ nghiêng phải trên mặt đường, tâm trục bánh trước chính hướng LL cách mép đường phải là 2m30, tâm trục bánh sau chếch hướng SĐ cách mép đường phải là 1m90. Tại vị trí tâm trục bánh cuối cùng bên trái đầu kéo phát hiện vết phanh có kích thước (4.3x0.15)m, điểm đầu vết hướng LL cách mép đường bên phải 4m35, điểm cuối vết hướng SĐ trùng với tâm trục bánh sau cùng đầu kéo; tại vị trí giữa xe mô tô phát hiện vết cà xước xác định đứt đoạn không liền nét, đầu vết hướng SĐ cách mép đường bên phải là 2m80, cuối vết hướng LL trùng với trục giữa xe mô tô cách mép đường bên phải là 2m30.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2021/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố ChL áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/8/2021, bị cáo K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo K có đơn xin xét xử vắng mặt, rút nội dung kháng cáo xin hưởng án treo, đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giữ nguyên bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Bị cáo và ngưới có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện hợp pháp của bị hại không có kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo hưởng án treo. Căn cứ khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo và những người trên.

. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung K tại cơ quan điều tra phù hợp với hiện trường vụ án và dấu vết trên phương tiện giao thông, phù hợp với lời khai của những người đại diện hợp pháp cho bị hại, những người làm chứng về thời gian, địa điểm, hậu quả bị cáo gây ra nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 16/10/2020, tại Km 88 + 600 Quốc lộ 37, thuộc địa phận khu dân cư BĐ - TT, phường CH, thành phố ChL, Nguyễn Trung K (không có giấy phép lái xe theo quy định và có nồng độ cồn trong máu là 137.5.mg/dl) điều khiển xe mô tô BKS: 34C1-134.59 hướng SĐ - LL chở anh Vũ Đình H đi không đúng phần đường quy định nên phần đầu bên trái xe mô tô BKS: 34C1-134.59 đã va chạm với phần bánh bên trái thứ hai của xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-338.82, kéo romooc BKS:15R-093.55 do anh Vũ Đình Đ điều khiển đi đúng phần đường, đúng tốc độ, đi hướng ngược chiều dẫn đến gây hậu quả anh H chết ngày 20/10/2020, bản thân bị cáo K bị thương tích 53%, xe mô tô hư hỏng thiệt hại là: 950.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không có giấy phép lái xe theo quy định, sử dụng rượu bia, điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường đã vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ; khoản 5, khoản 8 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải, hậu quả làm chết 01 người nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố ChL xét xử bị cáo K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét đơn kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo K bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với hai tình tiết định khung quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Khi áp dụng hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 36 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét bị cáo và bị hại là bạn bè thân thiết, cùng làm với nhau, buổi tối trước khi sự việc xảy ra bị cáo và bị hại cùng đi liên hoan, bị hại và bị cáo cùng uống rượu nhưng bị hại vẫn rủ bị cáo điều khiển xe chở bị hại đến nhà bạn, bị cáo vì nể nang nên đã điều khiển xe mô tô chở bị hại đi nên dẫn đến vụ tai nạn. Vì vậy, khi áp dụng hình phạt cần xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh và diễn biến sự việc. Tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm người đại diện hợp pháp của bị hại tha thiết đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tự nguyện nộp án hình sự sơ thẩm thể hiện thái độ ăn năn hối cải, có ý thức trong việc chấp hành pháp luật, đây là tình tiết mới phát sinh trong quá trình xét xử phúc thẩm. Xét bị cáo bị thương tích 53%, sức khỏe yếu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự nhân đạo của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xin rút đề nghị xin được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

. Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[1]. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2021/HSST ngày 14/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố ChL, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo như sau:

Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 12/11/2021./.

Cỡ chữ