vanban.org

Bản án 97/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/07/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

Về nuôi con chung: Giao cho anh Phạm Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu là Phạm Thị Tú C, sinh ngày 06/5/2013 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-7-2021
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Kha

Ông Hoàng Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Lương Thanh Hảo - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 26 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15/6/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 73/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/7/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm: 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1995 (vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ).

Địa chỉ cuối cùng của chị Nguyễn Thị T tại Việt Nam là thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 09/4/2021, nguyên đơn anh Phạm Văn Đ trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị T được tự do tìm hiểu trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/4/2013 tại UBNDxã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau hạnh phúc được thời gian đầu. Do cuộc sống vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã lẫn nhau, đến năm 2017 thì chị T đi xuất khẩu lao động và vợ chồng đã sống ly thân, vợ chồng đã không liên lạc gì với nhau không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc, anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Phạm Thị Tú C, sinh ngày 06/5/2013. Hiện nay cháu C đang ở với anh, ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng cháu C và không yêu cầu chị Nguyễn Thị T phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công nợ: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh Đ còn trình bày: Hiện nay chị T vẫn đang lao động ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể của chị T ở nước ngoài anh không cung cấp được cho Tòa án được vì anh không liên lạc được với chị T, chị T vẫn liên lạc về cho anh trai chị T là anh Nguyễn Danh M, sinh năm 1990; trú tại thôn Trại C, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhưng anh trai chị T cũng không cung cấp địa chỉ cho anh nên anh không biết để cung cấp cho Tòa án.

Do tính chất công việc nên anh không thể tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh và chị T được, anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh và chị Nguyễn Thị T.

Bị đơn chị Nguyễn Thị T không có bản tự khai.

Ngày 05/5/2021 và ngày 20/5/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành lập biên bản với anh trai của chị Nguyễn Thị T là anh Nguyễn Danh M, sinh năm 1990; trú tại: Thôn Trại C, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giao thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu anh M thông báo cho chị T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Phạm Văn Đ và chị Nguyễn Thị T; yêu cầu chị T viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu anh M cung cấp địa chỉ cụ thể của chị T ở nước ngoài. Tuy nhiên, qua hai lần yêu cầu anh M vẫn giữ nguyên quan điểm là chị T ở nước ngoài, vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình nhưng anh không cung cấp địa chỉ cụ thể của chị T ở nước ngoài cho Tòa án, vì đây là việc cá nhân của chị T, đồng thời anh cũng không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị T biết để chị T gửi lời khai về. Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của chị T gửi về.

Cháu Phạm Thị Tú C trình bày: Cháu con của bố Phạm Văn Đ và mẹ Nguyễn Thị T. Hiện nay cháu đang ở cùng bố Phạm Văn Đ. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố cháu là Phạm Văn Đ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Thị T vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dụng vụ án, thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Đ; Biên bản làm việc với anh trai của chị T là anh Nguyễn Danh M và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của Nguyên đơn anh Phạm Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị T; Căn cứ vào quy định pháp luật xét xử vắng mặt chị T là đúng.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 53, 56; điều 81, 82, 83 và khoản 2 điều 123, điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147;điều 227; điều 228;điều 238; điều 271; điều 273; khoản 2 điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Giao con chung là cháu là Phạm Thị Tú C, sinh ngày 06/5/2013 cho anh Phạm Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do anh Đ không yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.

Anh Phạm Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Văn Đ là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Phạm Văn Đ.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với anh trai của chị T là anh Nguyễn Danh M để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh M thông báo cho chị T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Phạm Văn Đ và chị Nguyễn Thị T; Yêu cầu chị T viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu anh M cung cấp địa chỉ cụ thể của chị T ở nước ngoài. Anh Nguyễn Danh M trình bày: Chị T vẫn thường xuyên liên lạc về cho anh. Tuy nhiên, Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà anh M vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị T cho Tòa án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị T biết. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 2 điều 227, điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị T.

. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Phạm Văn Đ là nguyên đơn có đơn xin ly chị Nguyễn Thị T, chị T hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Theo Công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 14/4/2021 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, thì chị T xuất nhập cảnh 05 lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 23/8/2020 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam, địa chỉ cuối cùng của chị T ở Việt Nam là: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ Hôn nhân: Anh Phạm Văn Đ và chị Nguyễn Thị T kết hôn 09/4/2013 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Theo anh Đ trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau hạnh phúc được thời gian đầu. Do cuộc sống vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, năm 2017 thì chị T đi xuất khẩu lao động, vợ chồng đã sống ly thân, không liên lạc gì với nhau không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc, anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Văn Đ. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh Đ và chị T chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung nên thường xảy ra xô sát. Năm 2017 chị T đi xuất khẩu lao động kể từ đó vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau, không ai quan tâm đến ai nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Đ và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ. Xử cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

. Về nuôi con chung: Anh Đ, chị T có 01 con chung là cháu Phạm Thị Tú Chinh, sinh ngày 06/5/2013. Hiện nay cháu C đang ở với anh Đ. Ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu nuôi con chung của anh Đ: Hội đồng xét xử thấy hiện nay chị T đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Nguyễn Thị T từ khi đi nước ngoài thì cháu C vẫn do anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, được đi học đầy đủ. Mặt khác, cháu C trên 7 tuổi có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ cháu ly hôn. Do vậy, căn cứ điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn Đ về yêu cầu được nuôi con chung là Phạm Thị Tú C. Giao cho anh Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phạm Thị Tú C, sinh ngày 06/5/2013 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như nguyện vọng của con chung. Sau khi ly hôn chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trường hợp chị Nguyễn Thị T về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

. Về tài sản, công nợ: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Anh Phạm Văn Đ phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 và khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Về hôn nhân: Cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Phạm Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu là Phạm Thị Tú C, sinh ngày 06/5/2013 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.

Trường hợp chị Nguyễn Thị T về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

3. Về án phí: Anh Phạm Văn Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000042 ngày 29/4/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Đ đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Chị Nguyễn Thị T hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ