- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Kiều - Phúc"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Minh K, buộc ông Lê Văn P phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Phan Thị Minh K số tiền là 230.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2021/DS-ST Ngày 24/8/2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Sỹ Phác, ông Nguyễn Duy Chấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thu Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 152/2021/TLST-DS, ngày 30 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2021/QĐXX-ST ngày 05 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Minh K – Sinh năm 1959.
Địa chỉ: Thôn Đ A, xã Th A, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Văn P – Sinh năm 1963.
Địa chỉ: Thôn Đ H, xã Th A, huyện Đl, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Minh K trong quá trình điều tra và tai phiên tòa: Năm 2018 bà có cho ông Lê Văn P vay tổng số tiền 230.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 14/6/2018 cho vay 200.000.000 đồng, lãi suất tự thỏa thuận, thời hạn thanh toán ngày 14/7/2018; Ngày 21/6/2018 cho vay thêm 30.000.000 đồng, lãi suất tự thỏa thuận, thời hạn thanh toán 10 ngày. Từ khi vay ông P đã trả cho bà số tiền lãi là 4.000.000 đồng, từ khi trả cho bà được số tiền lãi là 4.000.000 đồng thì đã nhiều lần bà yêu cầu ông P phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ, tuy nhiên ông P cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Do đó bà làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ giải quyết buộc ông Lê Văn P phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà số tiền gốc là 230.000.000 đồng và lãi suất phát sinh 0,83%/tháng từ ngày 01/7/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm, khấu trừ số tiền lãi 4.000.000 đồng ông P đã thanh toán trước đó, đề nghị Tòa án buộc ông Lê Văn P phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà tổng số tiền gốc và lãi suất phát sinh tính đến ngày 23/8/2021 cho đến khi trả nợ xong theo quy định của pháp luật.
- Theo lời khai của bị đơn ông Lê Văn P trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa: Ông thừa nhận có vay bà Phan Thị Minh K tổng số tiền 230.000.000 đồng, đối với số nợ trên thì ông chỉ đồng ý thanh toán cho bà K số tiền gốc là 230.000.000 đồng, còn tiền lãi suất phát sinh ông mong bà K bỏ qua vì hiện tại gia đình ông đang gặp khó khăn, về hình thức trả nợ là trả dần từng năm cho đến khi hết nợ.
Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu trừ đi số tiền 4.000.000đồng tiền lãi ông P đã trả trong quá trình vay nợ và không yêu cầu tiếp tục tính lãi như đã yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án mà chỉ yêu cầu giải quyết buộc bị đơn trả lại tiền nợ gốc là 230.000.000 đồng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 463; Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Văn P phải trả cho bà Phan Thị Minh K số tiền gốc là 230.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, bị đơn ông Lê Văn P có địa chỉ tại Thôn Đ H, xã Th A, huyện Đl, tỉnh Đắk Nông , do đó Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào giấy vay tiền các ngày 14/6/2018 và 21/6/2018, lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nhận định: Năm 2018 bà Phan Thị Minh K có cho ông Lê Văn P vay tổng số tiền 230.000.0000 đồng, cụ thể: Ngày 14/6/2018 cho vay 200.000.000 đồng, lãi suất tự thỏa thuận, thời hạn thanh toán ngày 14/7/2018; Ngày 21/6/2018 cho vay thêm 30.000.000 đồng, lãi suất tự thỏa thuận, thời hạn thanh toán 10 ngày, quá trình vay mượn ông Lê Văn P đã thanh toán được cho bà Phan Thị Minh K số tiền lãi là 4.000.000 đồng, do đó Tòa án công nhận quan hệ vay tài sản giữa bà Phan Thị Minh K, ông Lê Văn P là có thật và hợp pháp.
Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; Khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1 Về nợ gốc: Ngày 14/6/2018 bà Phan Thị Minh K cho ông Lê Văn P vay 200.000.000 đồng; Ngày 21/6/2018 bà K cho ông P vay thêm 30.000.000 đồng. Đến thời điểm trả nợ ông P không thực hiện đúng cam kết trả nợ là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, do đó việc bà Phan Thị Minh K có đơn khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn P phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà K số tiền gốc 230.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận là phù hợp.
3.2. Về lãi suất phát sinh:
Nguyên đơn bà Phan Thị Minh K không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Từ khi vay tiền ông P đã thanh toán được cho bà K số tiền lãi là 4.000.000 đồng, tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị Minh K không yêu cầu ông Lê Văn P phải trả số tiền lãi trên nợ gốc kể từ khi vay cho đến thời điểm xét xử và đề nghị khấu trừ số tiền 4.000.000 đồng vào số tiền lãi ông P còn nợ là có căn cứ; do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
. Đối với yêu cầu của bị đơn:
Ông Lê Văn P chỉ đồng ý trả nợ cho bà Phan Thị Minh K số tiền gốc là 230.000.000 đồng và xin trả dần hàng năm vì gia đình đang gặp khó khăn, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông Lê Văn P xin trả dần số nợ hàng năm không được nguyên đơn đồng ý. Yêu cầu trên của ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ lâu làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông tại phiên toà là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận là phù hợp.
. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39;
Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 278, Điều 280, Điều 351 Điều 352, Điều 353, Điều 357, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Minh K, buộc ông Lê Văn P phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Phan Thị Minh K số tiền là 230.000đ (Hai trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Văn P phải chịu 11.500.000đ (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Phan Thị Minh K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0006672, ngày 30/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
3. Về Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Áp dụng Điều 19 của Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP, ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật tố tụng dân sự: Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời số tại Quyết định số 04/2021/QĐ-BPKCTT ngày 22 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông; -VKSND tỉnh Đắk Nông; -VKSND huyện Đ; -Chi cục THA dân sự huyện Đ; -Những người tham gia tố tụng; -Lưu HS, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thế Thắng |