vanban.org

Bản án 97/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Và khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53; Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Không công nhận chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Đào Quốc V là vợ chồng. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kiều T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đào Quốc A (giới tính: nam), sinh ngày: 04/12/2009. Chị T chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Và khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53; Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 6 - 2020
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN THỊ XÃ LONG MỸ- TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân.

- Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Hồng

Bà Hồ Thị Út

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ.

Ngày 17 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2020 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm: 1988

Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã V, huyện L, tỉnh H. Có mặt.

2. Bị đơn: Đào Quốc V, sinh năm: 1985.

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, thị xã L, tỉnh H. Vắng mặt.

Tại phiên tòa có mặt con chung cháu Đào Quốc A, sinh ngày:04/12/2009

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày: Chị T và anh Đào Quốc V tổ chức lễ cưới vào năm 2008, nhưng không có đăng ký kết hôn. Hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, chị T và anh V đã ly thân từ tháng 12/2019 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Đào Quốc V.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đào Quốc A (giới tính: nam), sinh ngày: 04/12/2009, hiện nay cháu Quốc A sống chung với chị T và gia đình. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Quốc A chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về công nợ: Không có.

Trong quá trình thu thập chứng cứ bị đơn anh Đào Quốc V trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Kiều T về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản. Anh và chị T chung sống đến tháng 12/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, nên chị T yêu cầu ly hôn anh V cũng đồng ý.

Về con chung: Anh V thống nhất để chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đào Quốc A.

Về tài sản chung: Không có.

Về công nợ: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Đào Quốc V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Đào Quốc V chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2008, nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”.

Chị T và anh V có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng chung sống kéo dài cho đến nay vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Nay chị Nguyễn Thị Kiều T yêu cầu xin ly hôn.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này”. Do vậy, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Đào Quốc V.

Về con chung: Chị T và anh V có 01 con chung tên Đào Quốc A (giới tính: nam) sinh ngày 04/12/ 2009. Hiện nay cháu Quốc A đang sống chung với chị T. Cháu Quốc A có nguyện vọng sống chung với mẹ. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh V cũng đồng ý. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thống nhất cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đào Quốc A. Chị T chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, con chung cho anh V không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét.

Về công nợ: Không phát sinh, nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều T phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Và khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53; Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử: Không công nhận chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Đào Quốc V là vợ chồng.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kiều T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đào Quốc A (giới tính: nam), sinh ngày: 04/12/2009. Chị T chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Đào Quốc V, không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung: Không có.

Về công nợ: Không phát sinh.

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0000347 ngày 22 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ thành án phí sơ thẩm.

Nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 17/6/2020. Bị đơn Đào Quốc V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã L nơi bị đơn cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ