vanban.org

Bản án 97/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Bùi Thị A với ông Đặng Minh U là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Giao Đặng Diễm N, sinh ngày 26/10/2009 và Đặng Minh T, sinh ngày 26/7/2011 cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đặng Minh U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con bà A chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Ảnh + Đặng Minh Út"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Bùi Thị A với ông Đặng Minh U là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2020/HNGĐ-ST
Ngày 15 - 5 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Trung Trực

Bà Nguyễn Hải Âu

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị A, sinh năm 1972

Cư trú tại: Ấp Phú Nhuận, xã N , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Đặng Minh U, sinh năm 1968.

Cư trú tại: Ấp Phú Nhuận, xã N , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2020 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn bà Bùi Thị Ảnh trình bày:

Về hôn nhân: Bà với ông U chung sống như vợ chồng vào năm 1991, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống đến năm 1999 ông U nảy sinh cờ bạc, rượu chè và nhiều lần xúc phạm bà, nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống. Sau đó bà có khuyên bảo nhiều lần nhưng ông U không thay đổi nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Nay, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận mối quan hệ của bà với ông U là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Có 03 người con tên Đặng Kiều D , sinh năm 1993. Cháu D đã trưởng thành, không hạn chế về khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Đặng Diễm N , sinh ngày 26/10/2009 và cháu Đặng Minh T , sinh ngày 26/7/2011, hiện đang sống cùng bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu N và cháu T , không yêu cầu ông U cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Bà A xác định không có.

Đối với bị đơn ông Đặng Minh U: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông U theo quy định pháp luật, nhưng ông U không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Đặng Minh U là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng ông U vắng mặt không có lý do. Vào ngày 13/3/2020 bà A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông U và bà A.

Về hôn nhân. Bà A với ông U chung sống vào năm 1991, hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn và đến nay ông bà chưa đăng ký kết hôn theo quy định, do đó quan hệ hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà A cho rằng, quá trình chung sống đến năm 1999 ông U nảy sinh cờ bạc, rượu chè và nhiều lần xúc phạm bà dẫn đến vợ chồng đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Nay, bà yêu cầu Tòa án tuyến bố không công nhận mối quan hệ giữa bà với ông U là vợ chồng. Do bà A với ông U chung sống với nhau trong thời gian dài, mặc dù đủ điều kiện kết hôn nhưng lại không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà A với ông U là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Tên Đặng Diễm N , sinh ngày 26/10/2009 và Đặng Minh T , sinh ngày 26/7/2011, hiện các cháu đang sống cùng bà Ảnh. Khi ly hôn bà A yêu cầu được nuôi cháu N và cháu T , không yêu cầu ông U cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “…vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; …nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Viện dẫn từ điều luật trên thấy rằng, tại biên bản trình bày nguyện vong của cháu N và cháu T vào ngày 17/3/2020 các cháu có nguyện vong ở với mẹ là bà A. Do đó, cần giao cháu N và cháu T cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng. Ông U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con bà A chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ: Bà A xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, bà A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53; Điều 81; khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Bùi Thị A với ông Đặng Minh U là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Giao Đặng Diễm N, sinh ngày 26/10/2009 và Đặng Minh T, sinh ngày 26/7/2011 cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Đặng Minh U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con bà A chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà A phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010405 ngày 28/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà A, ông U có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ